<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557</id><updated>2011-04-21T16:59:01.340-07:00</updated><title type='text'>Vu Lan 2006</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>10</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115529900110209474</id><published>2006-08-11T05:20:00.000-07:00</published><updated>2006-08-21T04:19:01.566-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;color:#999900;"&gt;&lt;strong&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;color:#999900;"&gt;&lt;strong&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN X&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Những đề nghị cụ thể&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/?d=FO85FD8B"&gt;http://www.megaupload.com/?d=FO85FD8B&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;Câu 1 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Món quà nào con cái nên cúng dường cha mẹ trong mùa lễ này ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Món quà tốt nhất để cúng dường cha mẹ trong mùa lễ Vu Lan là những món quà thực dụng và cha mẹ vui thích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Món quà thực dụng là món quà mà cha mẹ có thể ăn hoặc uống hoặc xài được sau khi nhận từ con cái. Thí dụ như bánh, trái, thuốc bổ ... món dùng xài như y phục, chăn, màng ... hoặc bất cứ vật dụng nào khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Món quà cha mẹ vui thích là món quà mà làm cho cha mẹ hoan hỷ cảm động, một đóa hoa tươi, một bức tranh (nếu cha mẹ có óc mỹ thuật)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đôi khi có món quà thực dụng nhưng cha mẹ không vui thích; ngược lại có món quà không thực dụng nhưng cha mẹ thích. Thế thì nên dâng tặng cha mẹ món quà mà các vị ấy thích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Món quà nào cha mẹ nên cho con cái ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Thật ra khi con còn nhỏ, tất cả những gì con cái cần như thực phẩm, y phục, sách vở, thuốc men, v.v… đều do cha mẹ lo lắng. Nhưng quà tặng nhân những ngày lễ đặc biệt như sinh nhật, tốt nghiệp, thì cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng. Nên chọn lựa những món quà thích hợp với lứa tuổi, sở thích, thiên hướng của con. Cũng có thể chọn những món quà có ý nghĩa tinh thần để hướng dẫn con vào những lĩnh vực mới mẻ, lý thú. Nên tránh những món quà hay những thứ đồ chơi có thể có ảnh hưởng xấu đến tính cách của con như súng đạn, phim hay trò chơi bạo động, kinh dị, v.v…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Lời chúc nào có ý nghĩa theo Phật Pháp ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Theo kệ Pháp cú số 75 của Tôn Giả Tissa có lời chúc như vầy: "Chúc cho được an lạc, xin cho được thoát khổ, và các vị Phật Độc Giác cũng có lời chúc như vầy: "Icchitam. pat.t.hitam. tumham. Khippameva samijjhatu. Sabbe pūrentu san°kappā. Cando pan.n.araso yathā". Cầu cho bao nhiêu phước đã ước nguyện, của tín thí mau kết quả nhãn tiền, bao nhiêu tư duy đạt thành viên mãn, như được Ma Ni ngọc ước chơn truyền". Pháp cú 11, Phẩm Đao Trượng, tích Sukhasāmaneravatthu. Các lời chúc chỉ xoay quanh cho mọi người được an lạc và mau thoát khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nên biểu lộ tình thương thế nào vừa đẹp, vừa có ý nghĩa mà lại vừa có đạo vị ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Trước hết trong mối quan hệ giữa người với người, có tình thương đối với nhau đã là một điều tốt đẹp. Nhưng nếu thương yêu mà thiếu sự hiểu biết cũng không thể đem lại hạnh phúc cho người mình thương yêu. Trước hết không nên coi người mình thương là sở hữu của mình và phải làm theo ý thích của mình. Cha mẹ thường hay có thái độ như vậy đối với con cái và khiến cho con cái đôi lúc cảm thấy không thoải mái hay thậm chí chống đối lại cha mẹ.Thương yêu nhưng vẫn tôn trọng cá tánh và ý kiến của người khác, biết lắng nghe và chia sẻ, biết cảm thông và tha thứ, khuyên nhủ mà không ép buộc, phân tích giảng giải mà không bắt phục tùng. Không nhất thiết phải biểu lộ tình thương bằng lời nói, (tuy những lời nói yêu thương cũng là một nguồn hạnh phúc cho người khác), nhưng ít nhất cũng phải thể hiện bằng hành động, quan tâm đến lợi ích vật chất và tinh thần của người mình thương yêu, nếu không thì tình yêu thương đó thật là trừu tượng và vô nghĩa.&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có thể giới thiệu vài tựa sách để đọc trong mùa Vu Lan ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Trong số sách tiếng Việt xin giới thiệu quyển: Tình Đời Ý Đạo của HT Hộ Giác. Bỏ qua "chất tiểu thuyết" của công trình nầy chúng ta có một tự liệu lịch sử đáng kể và đẹp về những giai thoại liên quan tới tôn giả Ananda - vị thị giả của Đức Phật. Tình cảm, hành xử và những đắn đo của vị nầy có nhiều bài học hay cho mùa Vu Lan. Trong số sách Anh ngữ xin giới thiệu tác phẩm A Man Thinketh của James Allen. Một tiểu luận về sự thể hiện của nghiệp và tâm tạo nghiệp mà không nhắc chữ nào về nghiệp. Một đề tài khó viết nhưng lại được viết rất hay quả là một tác phẩm lợi ích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nếu không quen biểu lộ tình cảm của cha mẹ và con cái thì nên làm gì ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Thời đại ngày nay người ta thường không quen biểu lộ tình cảm giữa cha mẹ và con cái một cách mà họ cho rằng ủy mị, yếu đuối. Tuy nhiên không phải vì thế mà trong gia đình giữa cha mẹ và con cái đánh mất tình cảm thiêng liêng ấy được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có nhiều cách để biểu lộ tình cảm giữa cha mẹ và con cái, hầu tạo được không khí ấm áp trong gia đình mà không phải là hình thức yếu đuối ủy mi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ánh mắt hiền hòa một nụ cười cởi mở, một lời nói dịu dàng, một sự nhiệt tình khuyên bảo của cha mẹ đối với con. Đó là một sự biểu lộ tình cảm của cha mẹ dành cho con.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một ánh mắt hồn nhiên, một nụ cười vô tư, một lời nói lễ độ, một sự nhiệt tình phụng dưỡng của con cái đối với cha mẹ. Đó là một sự biểu lộ tình cảm của con cái dành cho cha mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Tạo phước cách nào thù thắng nhất để hồi hướng cho thân nhân quá vãng ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Trong 10 cách tạo phước, bố thí đến Tăng chúng là phước điền thù thắng nhất để hồi hướng đến các bậc ân nhân đã quá vãng, vì Tăng chúng đang đắc đạo quả, sẽ đắc và đã đắc đạo quả Níp bàn, vì các Ngài đại diện cho Đức Phật truyền thừa chánh Pháp và duy trì chánh Pháp cho được bền lâu, trên thế gian chẳng có châu báu thù diệu nào cho bằng Ân Đức Tam Bảo, đáng cho chư Thiên và nhân loại cúng dường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (Sư Tuệ Lạc trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nếu cha mẹ làm điều không hợp theo lẽ đạo thì con cái có nên can ngăn khi biết rằng lời nói ấy làm cha mẹ phiền lòng ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nếu cha mẹ có làm điều gì không hợp lẽ đạo (tạo các ác nghiệp) thì dĩ nhiên trách nhiệm của người con là phải can ngăn, có khi điều này làm cho cha mẹ bực bội, khó chịu (vì quan niệm “Áo mặc sao qua khỏi đầu”..)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để cho vẹn tròn thì phải can ngăn sao cho hợp thời và khéo léo để không chạm đến lòng tự ái của cha mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nếu chỉ cầu nguyện, và cầu nguyện trong lặng lẽ, thì có lợi gì cho người thân của mình không ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Vấn đề nằm quan trọng chỗ nầy: Nếu chúng ta thật sự tha thiết điều gì thì chắc chắn thể hiện bằng cách nầy hay cách khác. Do vậy tấm lòng rất quan trọng. Có nhiều bằng chứng cho thấy về điều nầy qua sự phục hồi nhanh chóng các tôn giáo tại các quốc gia mà tôn giáo bị áp bức hay tiêu diệt. Nói thuần lý Phật Pháp thì khi chúng ta thành tâm mong cầu hạnh phúc cho người khác thì tự điều ấy có giá trị như một thứ tâm từ. Nều thường cầu nguyện trong lặng lẽ câu nầy: Sabbe satta sukkhita hontu - nguyện cho tất cả chúng sanh an lạc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Sư Tuệ Lạc trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có những gì nên đề nghị là "đừng làm" trong mùa Vu Lan ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nếu cha mẹ còn tại tiền thì đừng làm những hành động ngỗ nghịch xúc phạm đến cha mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đừng hững hờ trước sự hiện hữu của cha mẹ, nếu hững hờ thì làm cho họ có cảm giác sống thừa, sống để làm phiền con cháu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu có gia đình thì càng nên tránh những việc không phải đối với cha mẹ vì như vậy vô tình sẽ là tấm gương xấu cho con bắt chước, vợ (chồng) xem thường nhau.&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115529900110209474?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115529900110209474/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115529900110209474' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115529900110209474'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115529900110209474'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn-x.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115521569361045227</id><published>2006-08-10T06:10:00.000-07:00</published><updated>2006-08-11T04:56:12.473-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#999900;"&gt;&lt;strong&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN IX&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Năng lực nhiệm mầu&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/?d=OYXFJ4S3"&gt;http://www.megaupload.com/?d=OYXFJ4S3&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;Câu 1 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phật Pháp nói gì về phép lạ ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Phép lạ (pātihāriya) là hiện tượng siêu nhiên, được thực hiện bởi năng lực tâm linh, vượt ngoài sự sáng tạo của người thường, không thể chứng minh bằng lý luận logic.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phép lạ được giải thích theo kinh điển Phật giáo, có 2 nguồn năng lực: do tâm định (samādhi), do chú thuật (manta).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những vị đã đắc thiền, đạt đến thắng trí, tâm định của vị ấy có năng lực biến hoá theo ý muốn, ngưởi ta gọi đó là phép mầu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các vị bàn môn tả đạo sự dụng bùa chú đặc biệt cũng có năng lực phi thường, tạo ra phép lạ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phép lạ do năng lực thiền định thì đức phật tán thán, do bùa chú thì ngài không tán thán. Nhưng đức Phật cũng không khuyến khích đệ tử dùng thần thông phép mầu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (Sư Tuệ Lạc trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Hỏi: Năng lực siêu nhiên đến từ đâu ?&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Năng lực siêu nhiên: Khả năng hiện những thực hiện những hành động vượt xa sức của người bình thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các năng lực siêu nhiên như là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nhớ lại tiền kiếp.&lt;br /&gt;- Đoán trước tương lai.&lt;br /&gt;- Cảm ứng được nhiều sự việc.&lt;br /&gt;- Ngũ thông: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, sanh tử thông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Do lời nguyện.&lt;br /&gt;2. Do trí lực đặc biệt.&lt;br /&gt;3. Do sự rèn luyện kiên trì, đúng phương pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Chờ đợi phép mầu phải chăng là việc "Ôm cây đợi thỏ" ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Chờ đợi phép mầu thì thật giống như "ôm cây chờ thỏ" theo bài kinh trường bộ thứ 11 Thế Tôn nói với cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Kevaddha, Ta không dạy cho các Tỷ-kheo pháp này: "Này các Tỷ-kheo các Ngươi hãy thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa, tha tâm thần thông cho các cư sĩ áo trắng". Và Đức Phật cũng đã so sánh tại sao mà các loại phép lạ không mang lai lợi ích tối thượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Thần thông (iddhi) khác với thắng trí (Abhinna) thế nào ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Phạn ngữ Iddhi tạm dịch là thần lực có nghĩa là những năng lực lạ thường có thể do bùa chú hay thiền định ... trong khi chữ thắng trí - abhinna chi tận thông là thắng trí liễu chứng niết bàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phước có phải là một sự mầu nhiệm không ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Người ta thường nghĩ rằng sự mầu nhiệm chỉ có trong truyện cổ tích, thần thoại với cô tiên, ông bụt hay chiếc đũa thần, và sự mầu nhiệm này có thể biến cô bé lọ lem thành một nàng công chúa, một người khố rách áo ôm trở thành người chủ một lâu đài nguy nga tráng lệ. Nhưng theo Phật giáo thì những chuyện mầu nhiệm này có thể xảy ra trong thực tế nếu một người có phước đức hay thiện nghiệp. Phước chính là yếu tố đem lại cho con người sự đẹp đẽ, thông minh, giàu sang, địa vị, và những phúc hạnh khác. Chính vì vậy người Phật tử chân chính không mong cầu sự mầu nhiệm trên trời rơi xuống mà chỉ tinh tấn hành thiện pháp, vun bồi phước đức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phép mầu được quan niệm thế nào trong sự hoằng dương Phật Pháp ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có ba loại phép mầu (pātihāriya): phép mầu biến hóa, phép mầu tiên tri, phép mầu giáo hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đức Phật đề cao và tán thán loại phép mầu giáo hóa. Bản thân Ngài, và ngài nhắc nhở các đệ tử dùng phương pháp giáo hóa, thuyết giảng Phật pháp để hóa độ chúng sanh, thức tĩnh người khác hiểu và thực hành theo con đường giải thoát, điều đó tốt hơn là dùng phép mầu biến hóa hay phép mầu tiên tri.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đức Phật trong vài trường hợp đặc biệt, Ngài mới dùng đến phương tiện thần thông và tiên tri để phục chúng sanh, để phá tan sự hoài nghi của họ, để làm cho họ thấy uy lực của bậc viên mãn nhưng sau đó Ngài cũng đã thuyết pháp giáo hóa cho họ hiểu Giáo Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong việc hoằng dương Phật Pháp, các vị A-la-hán theo gương đức Phật, hạn hữu mới dùng đến phép mầu thần thông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Tại sao các tôn giáo thường nói nhiều về phép lạ ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Vì khả năng của những phép lạ là những gì phi thường mà những con người đặt biệt mới có được, sẽ mở rộng được tôn giáo của mình, cũng để tự tôn xưng vị giáo chủ của mình đã tôn thờ và coi như tôn giáo của mình là hơn hết, với mục đích làm cho mọi người tin vào tôn giáo của mình hơn. Còn riêng về Đạo Phật, nếu phép lạ là thần thông thì Đức Phật đã giảng giải trong bài Kinh Kevaddha (Kinh Kiên Cố - Trường Bộ Kinh số 11): Có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba ? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Này Kevaddha chính Ta thấy sự nguy hiểm trong sự tha tâm thần thông, sự biến hóa thần thông mà Ta nhàm chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông, tha tâm thần thông. Riêng về giáo hóa thần thông thì Đức Phật tán thán, vì không làm cho mọi người điên đảo, làm cho mọi người đạt được đức tin và trí tuệ vững chắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Theo Phật Pháp thì chúng ta có thể tạo nên những năng lực mầu nhiệm không ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Những năng lực mầu nhiệm như có thể đi trên mặt nước, bay trong không gian, mắt có thể nhìn thấy xa ngàn dặm, biết được tâm tư của người khác v.v… là những thần thông mà chúng ta có thể tạo nên. Theo Phật giáo, thì những thần thông này có được là do kết quả của sự tập thiền định. Theo Thanh Tịnh Đạo Luận, “thiên nhãn thông khởi đầu bằng nhìn các màu sắc thanh tịnh, thiên nhĩ thông bắt đầu tu tập nghe chính các âm thanh thông thường từ gần đến xa, túc mạng thông khởi công nhớ lại các việc hằng ngày trong một ngày, hai ngày rồi lâu đến cả tuần, cả tháng trước. Như thế, chẳng có chi là quá siêu phàm, hay mầu nhiệm, chỉ tùy theo định lực có thâm hậu hay không mới có thể tu tập từ từ đắc các thắng pháp đó”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nguồn gốc của Phật Giáo Mật Tông (tantric) trong lịch sử Phật giáo được ghi nhận thế nào ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Trong chiều dài 1700 năm tồn tại của Phật giáo Ấn Độ sau Phật niết bàn được các sử gia chia làm ba thời kỳ: năm trăm năm đầu là thời cực thịnh của Phật giáo nguyên thủy, năm trăm năm tiếp theo là thời hưng khởi của Phật giáo Đại thừa và 700 năm sau cùng là phát triển của Phật giáo Mật tông. Đây là một kết hợp của tư tưởng Phật giáo Đại thừa và giáo điển Veda. Ấn quyết, chú thuật, phép mầu là những nét nổi bật của Mật tông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Sư Tuệ Lạc trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Hỏi: Chư thiên có thật sự hộ trì bổn mạng của con người không ?&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp: &lt;/strong&gt;Quả thật, chư thiên có thể hộ trì cho con người. Những ai thương tưởng đến chư thiên sẽ được chư thiên thương tưởng lại. Chư thiên hộ trì con người cũng giống như bà mẹ hiền chăm lo bảo bọc cho đứa con, vì chư thiên có năng lực thù thắng hơn con người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, chư thiên chỉ có thể hộ trì ở một chừng mực nào đó, trong phạm vi khả năng của chư thiên. Nếu ác nghiệp của một người quá nặng, thì đừng nói gì chư thiên, cho dù là Phật cũng khó lòng can thiệp (trường hợp dòng họ Thích-Ca bị tru diệt, dù đức Phật đã ba lần can thiệp).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản thân chư thiên cũng không thể duy trì sự an vui của họ mãi mãi, vì phước báu cũng có giới hạn.. &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115521569361045227?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115521569361045227/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115521569361045227' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115521569361045227'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115521569361045227'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn-ix.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115513615856273855</id><published>2006-08-09T08:09:00.000-07:00</published><updated>2006-08-09T08:27:12.340-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:130%;color:#999900;"&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN VII&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Lý tưởng và Hành động&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/de/?d=S7EOQD93"&gt;http://www.megaupload.com/de/?d=S7EOQD93&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;Câu 1 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nhiều Phật tử nói rằng "Phật dụng tâm". Phải chăng chỉ cần có tấm lòng đã đủ còn làm hay không thì không quan trọng ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Câu nói "Phật dụng tâm" là có ý nghĩa khác, không phải là vấn đề then chốt của tư tưởng Đạo Phật; Hơn nữa, câu nói nầy không phải là lời Đức Phật thuyết nên không có tính xác thực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói "Phật dụng tâm" là trường hợp một người nghèo cúng dường Ðức Phật hay Chư Tăng, chỉ cần người ấy có tấm lòng thành là được Đức Phật và Chư Tăng thọ nhận dù là lễ phẩm tầm thường; Hơn nữa, do lòng thành cúng dường là đủ để thành tựu công đức bố thí rồi. Hoặc một người đảnh lễ Phật ðược thành tựu quả lành do niềm tin, chớ không phải do nghi thức.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng về thiện nghiệp, có trường hợp ý nghiệp thiện, khẩu nghiệp thiện, thân nghiệp thiện. Thân khẩu nghiệp phải được biểu hiện bằng hành động chớ không phải chỉ có lòng tốt mà không cần hành động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nếu chỉ hành động mà không có lý tưởng thì điều này được đánh giá thế nào trong Phật Pháp ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nói theo ngôn ngữ Phật Pháp thì nếu thiện hạnh đi với nguyện lực thì tốt hơn không có. Nhưng nếu thiện nghiệp đi với hy cầu thì thường kém đi quả thù thắng. Nguyện lực là sự hướng tâm chân chánh với mục đích cao cả. Hy cầu là mong mỏi được phước báu hữu lậu như phước báu nhân thiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Trong vài truyền thống Phật giáo có những lời nguyện dường như "bất khả" thí dụ như "chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" thì đó là lý tưởng hay điều mà kinh điển xác định là có thể thực hiện ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Kinh điển mà các Bậc Chánh Đẳng Giác đã thuyết giảng cho các vị Bồ Tát thực hiện và để thành tựu như các Đức Phật, nên các lý tưởng như thế được tiếp tục thể hiện, và thành tựu hạnh nguyện tự độ, độ quyến thuộc, và độ chúng sanh. Nhưng vì biết nghiệp lực chúng sanh bất khả tư nghì, và cũng biết được các chúng sanh thứ lớp tu hành để thành tựu quả vị Phật, và quả vị Phật Chánh Đẳng Chánh Giác sẽ không chỉ riêng cho một vị nào và cũng biết các chúng sanh không biết đến chừng nào mới hết được. Trong Thập nhị nhân duyên Đức Phật có cho biết là” không biết được kiếp đầu tiên nhưng sẽ biết được kiếp cuối cùng” dù là vị Chánh Đẳng Giác cũng chỉ như vậy mà thôi. Có những lý tưởng không thể thực hiện được và trong kinh điển Phật Giáo Nam Tông không có chỉ dạy như: "Độ tận chúng sanh", "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" hay "Địa ngục vị không thệ bất thành Phật” vì chân lý là một không thể khác được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (Sư Tuệ Lạc trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có đúng chăng khi nói là tất cả chúng sanh trong đời nói nhiều hơn làm, học nhiều hơn hành, suy tư nhiều hơn hành động ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; 1. Quả thật chúng sanh phần đông nói nhiều hơn làm, học nhiều hơn hành, suy tư nhiều hơn hành động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Từ nói đến làm, từ suy tư đến hành động là cả một khoảng cách khá dài. Vì sao ? Vì hầu hết chúng sanh mắc phải nhược điểm lớn: Sợ Hãi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Lo ngại khó khăn chướng ngại; và sợ hãi với nguy cơ thất bại. Tóm lại có một thứ rất khó có thể vượt qua: Sức ì tâm lý của bản thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Tuy nhiên cũng có những số ít chúng sanh học ít hành nhiều, dám nghĩ dám làm, nói được làm được, thậm chí không nói gì hết mà chỉ âm thầm hành động cho đạt kết quả như ý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Như trong Puggalapaññtti có liệt kê các loại mưa tương tự như các loại người:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Có sấm chớp trước, rồi mưa.&lt;br /&gt;- Có sấm chớp vang, không mưa.&lt;br /&gt;- Không có sấm chớp báo hiệu gì cả, như mưa lớn.&lt;br /&gt;- Không sấm chớp, cũng không mưa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nếu thấy người khổ mà mình thúc thủ không làm được gì thì chúng ta nên suy nghĩ thế nào để không phải khổ tâm vô ích ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Người có tâm bi trắc ẩn trước đau khổ của kẻ khác, nếu gặp người khổ mà không làm gì được thì thường là người ấy rất khổ tâm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để tránh được tình trạng khổ tâm vô ích khi mình thúc thủ không làm được gì. Chúng ta phải suy nghĩ một trong ba tư tưởng:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a/ Xét đến tình trạng nghiệp quả của mỗi chúng sanh, có làm có chịu, đã gieo nhân ắt gặt quả; nghĩ rằng người nầy vì tạo nghiệp xấu quá nặng nên ta không thể giúp được gì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b/ Xét đến nỗi khổ luân hồi. Thấy rằng tất cả chúng sanh còn luân hồi thì còn phải chịu khổ đau ít hoặc nhiều như thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;c/ Xét đến tính chất vô thường khổ của pháp hữu vi. Thấy rằng có thân đây phải chịu khổ do vô thường.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi xét nghĩ những điều như vậy, tâm của vị ấy sẽ an trú với xã, không bận tâm ray rứt nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Làm sao để xác định là mình đã thật sự làm "hết khả năng" của mình ? nói cách khác đâu là giới hạn khả năng của mọi người ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Khó đánh giá là làm bao nhiêu gọi là hết khả năng. Con người thường có thể làm được hay chịu đựng những điều mà chính mình không thể tưởng tượng được. Nhưng thường khi thì chúng ta chỉ làm điều gì đến mức độ "mình thích" hay "mình muốn" hoặc 'mình thấy xứng đáng". Trong tinh thần Phật Pháp thì mỗi chúng sanh đều có "khả tính" đạt những điều cao quí kể cả đạo quả giải thoát. Một người hiểu biết không đánh giá một cách nông nỗi bản thân mình hay người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Khi một người sống quá nặng lý tưởng thì có gọi là sống trong mộng ảo không ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Không thể nặng về lý tưởng là mộng ảo, vì có các pháp hành để đạt được lý tưởng dù là lý tưởng "thành Phật" 30 pháp độ của chư Phật. Nếu sống quá nặng về lý tưởng mà không nằm trong thông lệ của chư Phật thì thật là mộng ảo vì các Đức Phật là tối thượng không có pháp hành nào cao thượng hơn. Các bậc trí tuệ thì phải biết thực hành như thế nào để đạt được lý tưởng ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Ðối với một người thường miên man suy nghĩ thì làm thế nào để "bắt tay hành động" ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nên hiểu đó là một thói quen. Nên thân cận với những người thực tế để giảm bớt sự đòi hỏi quá đáng với công việc. Nên biết lúc nào để suy tư và lúc nào để hành động. Nên ý thức rõ là suy nghĩ nhiều quá mà không hành động chỉ phí thì giờ và tâm trí thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Làm thế nào để "tiêu hóa" một cách tốt đẹp những kinh nghiệm thất bại của mình ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Bằng "như lý tác ý - yoniso manasikara" hay khéo suy nghĩ. Thất bại là điều mà ai cũng phải trải qua trong cuộc sống. Nên chuẩn bị tinh thần đón nhận thất bại. Khi hành động thì cho phép bản thân có cơ hội trắc nghiệm. Cách tốt nhất để "tiêu hóa" những kinh nghiệm thất bại là học hỏi từ đó. Một chút tinh thần hài hước cũng giúp nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Sư Tuệ Lạc trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có Phật ngôn là: Ý nghiệp quan trọng hơn thân nghiệp và khẩu nghiệp. Phải chăng điều này hàm ý là ý muốn quan trọng hơn hành động ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Kệ ngôn Pháp cú:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“ Ý dẫn đầu các Pháp&lt;br /&gt;Ý làm chủ, ý tạo tác&lt;br /&gt;……………………..”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩa rằng: Tâm ý được đề cao, vì nó là nguồn cội, là nền tảng để từ đó hành động. Tâm ý thiết lập nên khuynh hướng hành động.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ví như một vương quốc có nhà vua, nhà Vua là Tâm ý, đưa ra những chính sách, đạo luật. Các quan tướng căn cứ vào đó thi hành. Như vậy không thể nói quan tướng có quyền lực hơn nhà vua. &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115513615856273855?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115513615856273855/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115513615856273855' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115513615856273855'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115513615856273855'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn_09.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115503773359433642</id><published>2006-08-08T04:44:00.000-07:00</published><updated>2006-08-09T03:58:05.170-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#999900;"&gt;&lt;strong&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN VII&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Khổ và Cứu khổ&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/de/?d=82C13JXC"&gt;http://www.megaupload.com/de/?d=82C13JXC&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;10 Câu hỏi về Khổ và Cứu khổ&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phải chăng chỉ có chúng sanh trong khổ cảnh mới có đau khổ ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nếu nói sự khổ là sanh, già, bệnh, chết, bất toại nguyện ... thì tất cả chúng sanh trong đời đều có thứ khổ ấy, vì đây là khổ đế, không phải chỉ có chúng sanh trong khổ cảnh mới có.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng về sự khổ đau là tình trạng thân khổ tâm sầu thì chúng sanh ở bốn khổ cảnh bi đát hơn chúng sanh cõi người; loài người khổ bi đát hơn chư thiên, phạm thiên; chư thiên cõi dục thì còn thọ ưu, các phạm thiên cõi thiền thì không. So sánh như vậy để thấy chúng sanh đều có khổ do thân sanh tử, nhưng khổ thuộc cảm thọ bởi phiền não sân hoặc bởi ác nghiệp thì chỉ có chúng sanh khổ cảnh và một số nhân loại kém phước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phải chăng tất cả khổ đau trong cuộc đời đều do từ nghiệp bất thiện hay có nguyên nhân nào khác ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Không hẳn là vậy. Quả khổ của nghiệp bất thiện chỉ là một phương diện. Sự hiện hữu của năm uẩn tự chúng vốn đã khổ luỵ cho dù kết thành bởi nghiệp thiện hay bất thiện thí dụ như bản chất vô thường của tất cả pháp hữu vi. Nhận thức và phản ứng sai lạc cũng tạo nên nỗi khổ mà Phật pháp gọi là không như lý tác ý như một người quá mong muốn mình sẽ làm chủ được tất cả những gì gọi là của mình thì phải khổ vì mọi vật đều có tự tánh riêng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Xúc động trước khổ đau của người khác có phải là đại bi tâm không ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Theo định nghĩa trong cuốn Vi Diệu Pháp Toát Yếu (Abhidhammatthasangaho) cái gì làm rung động trái tim của người hiền lương nhân đức trước cảnh ưu phiền của kẻ khác là Bi (Karunā), cái gì làm tan biến nỗi đau khổ của kẻ khác là Bi. Ðặc tính chánh yếu của Karunā (Bi) là lòng mong muốn giải trừ nỗi khổ đau của người khác. Như vậy xúc động trước khổ đau của người khác là một phần của tâm Bi. Trước hết phải biết đồng cảm với nỗi đau của người khác, sau đó mới vận dụng mọi phương tiện để làm vơi bớt những khổ đau của họ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Làm thế nào để có lòng trắc ẩn mà không bi lụy trước nỗi khổ của chúng sanh ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nói ngắn gọn là phải có đủ bốn đức từ, bi, hỉ, xã. Tâm xã - upekha - là thái độ quân bình, phải chăng đối với mọi hoàn cảnh. Chính tâm xã giúp chúng ta không buồn vui thái quá. Người ta thường quan niệm rằng càng xúc động thì chúng ta càng tích cực cứu giúp người hoạn nạn. Thực tế cho thấy về đường dài người điềm đạm thường bền bĩ trong sự cứu giúp người khác hơn là ngưòi nặng lòng bi luỵ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nói đến cứu khổ thì có thật sự là cứu được hay chỉ là ước nguyện thôi ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Từ “cứu khổ”, có ý nghĩa đa dạng. Cứu khổ, nghĩa là giúp giải thoát trầm luân cứu khổ, cũng có nghĩa là giúp giải trừ hoạn nạn tai ách.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cứu khổ, cũng có nghĩa là giúp vượt qua khó khăn nghèo đói.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi gặp người đang đói khổ mình bố thí cho bữa ăn để người ấy no lòng, đó cũng là cứu khổ.&lt;br /&gt;Thấy kẻ cô thế đang lâm vào hiểm nạn, mình ra tay tương trợ để họ thoát được nguy hiểm đó cũng là cứu khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúng sanh vô minh sống đọa lạc, Đức Phật thuyết pháp để cảnh tỉnh họ giác ngộ, chấm dứt tử sanh. Đó cũng là cứu khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những sự kiện nầy là cứu khổ thật sự. Nếu không giúp thiết thực mà chỉ tụng niệm cầu nguyện suông thì sự cứu khổ nầy chỉ là ước nguyện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TK Tuệ Quyền trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Tại sao người Phật tử nói nhiều về "ban vui cứu khổ" mà ít làm việc từ thiện xã hội hơn vài tôn giáo khác ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Quả thật ban vui cứu khổ là một việc thiện lớn mà người đệ tử Phật cần phải thực hiện, khi chính mình tương đối yên ổn. Việc từ thiện xã hội là một phần trong nhiều điều ban vui cứu khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không phải chỉ có cái ấm no là con người hết khổ. Ở đây, giá trị thực chân nhận ra cội nguồn của sự khổ, mà Đức Phật luôn dạy chúng ta hiểu và gởi tới tha nhân cùng hiểu về cái nhân khổ đó. Đây là một việc đại từ thiện so với mọi công tác từ thiện khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng có nhiều người đệ tử đầy đủ hào sản và thiện tâm để góp nên cho việc từ thiện bằng vật chất hay sức lực để ban vui cứu khổ đến người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Không ai có thể tát cạn bể khổ của trần gian, vậy thì tâm nguyện "cứu khổ độ đời" có phải là một nổ lực vô vọng chăng ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Trước hết cần xác định rõ thế nào là tâm nguyện “cứu khổ độ đời”. Nếu đây là tâm nguyện phải cứu độ hết tất cả chúng sanh, đến khi không còn một chúng sanh nào đau khổ nữa thì bản thân mình mới chứng ngộ Niết bàn, thì đó đúng là một nỗ lực vô vọng, bởi vì ngay cả một vị Phật toàn giác cũng không làm được điều đó, vì ngài chỉ độ được cho những chúng sanh hữu duyên với ngài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn nếu tâm nguyện “cứu khổ độ đời” là lấy việc phụng sự chúng sanh làm sự nghiệp tu tập để thành tựu Ba la mật cho đến ngày chứng đắc đạo quả thì có thể xem đó là một cách thức tu tập hữu hiệu, tự lợi, lợi tha.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (TK Tuệ Quyền trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Khóc nhiều có làm cho chúng ta bớt khổ không ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Khóc là một cảm xúc mà mọi con người dễ gặp phải khi phải đối diện với hoàn cảnh mà chúng ta không lường trước được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở cuộc đời, con người bị nhiều sự bất hạnh, mất mát, thua sút … hay mượn nước mắt để biểu cảm tâm tư của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khóc không làm cho chúng ta bớt khổ, mặt khác còn có thể nguy hại hơn về sức khỏe và tinh thần. Một người đệ tử khi gặp phải nghịch cảnh phải thật sự vững tâm và kiềm chế xúc cảm của mình, phải nhận chân sự thật: Ta phải chia lìa sự vật mà Ta thương yêu vừa lòng không sao tránh khỏi được … Sự sống và cái chết, niềm vui, nỗi buồn luôn đeo bám và chịu sự điều phối của vô thường khổ não và vô ngã … Hiểu và biết rõ như vậy chúng ta sẽ bớt khổ hơn mà không phải mượn nước mắt làm vơi đi nỗi khổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (Sư Tuệ Siêu trả lời, tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Tại sao đau khổ là một đề tài lớn trong Ðạo Phật ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Câu hỏi dường như rất đơn giản, cho đến khi hỏi lại thì chúng ta phải ngập ngừng khi chúng ta quyết định để trả lời. Khổ đã trở thành một chân lý, chúng ta gọi đó là khổ đế và khổ trái ngược với hạnh phúc, chúng sanh trên đời này mong cầu hạnh phúc, chán ghét sự khổ. Trong cuộc sống của chúng ta, ngoảnh đi ngoảnh lại thì chỉ có hai mặt tức là khổ đau và hạnh phúc. Vì thế sự xuất hiện của Đức Phật, trước nhất là Ngài giải tỏa sự đau khổ chính bản thân Ngài bằng cách Giác Ngộ, chấm dứt đau khổ triền miên đó. Khi Ngài thuyết pháp, mục đích lời dạy của Đức Phật cũng nhằm để chấm dứt sự khổ như Đức Phật đã tuyên bố trong Tương Ưng Bộ kinh: “Này Chư Tỳ Kheo, xưa và nay, Như Lai đã thuyết về sự khổ… và sự diệt khổ” là hai điểm chính, những gì Đức Phật đã Giác ngộ những điều đó nằm trong Tứ đế mà khổ đế được nói đến đầu vì đó là một vấn đề cần phải được nói đến để có được một phương án chấm dứt sự khổ. Hễ có sự khổ rồi thì mới tìm nguyên nhân sanh khổ, và có sự khổ mới nghỉ đến sự diệt khổ và bấy giờ làm sao để diệt khổ mới có con đường để đưa đến sự diệt khổ đó. Con người chúng ta có hai trạng thái khỏe và bệnh, do vậy lúc nào chúng ta không khỏe tức nhiên chúng ta bị bệnh, hễ chúng ta bị bệnh thì đến người thầy thuốc, nhưng thầy thuốc này chỉ đề cập đến đề tài lớn là bệnh do nguyên nhân gì và phương thuốcgì để hết bệnh. Như vậy, ở đây trong cuộc sống của chúng ta là khỏe và bệnh là đề tài lớn, cũng vậy trong chúng sanh chỉ có hai mặt hạnh phúc và khổ đau, hễ mất hạnh phúc tất nhiên là khổ đau. Do vậy cho nên Đạo Phật là tìm phương pháp để chấm dứt khổ đau đó, thành ra khổ đau mới trở thành đề tài lớn trong Phật giáo. Chúng tôi xin được trả lời câu hỏi số 9 là như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Sư Pháp Đăng trả lời, tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;Hỏi: Bi nguyện có phải là nguyện lớn nhất trong Ðạo Phật không ?&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nói về chân lý hay nói về sự thực hành của các vị Chánh Đảng Chánh Giác, có những sự thực hành lợi ích cho mình, lợi ích cho quyến thuộc và lợi ích cho chúng sanh. Trên sự thực hành đó, Ngài đã thực hành trong vô lượng kiếp, mỗi kiếp Ngài đều giúp ích cho những người có duyên lành đến với Ngài, chứ không phải Ngài có thể giúp hết tất cả được. Khi Ngài sanh vào cảnh giới tương đối thông minh có, trí tuệ và điều kiện để Ngài có thể giúp đỡ thì Ngài không bao giờ từ nang, nhưng có những lúc Ngài sanh trong cảnh giới khổ đau. Ngài nói trong bài kinh hiền ngu, Ngài nói khổ đau này là chính ta thấy và ta biết và Ngài thực hành bi nguyện, một trong sáu loại trí là đại bi định trí của Đức Phật. Ngài quán xét chúng sanh do nghiệp duyên gì, sở hành nào, khuynh hướng nào mà chúng sanh bị rơi rớt vào khổ cảnh, và bây giờ chúng sanh phải tu những phương pháp nào, Ngài phải giảng bài pháp nào, nói pháp môn nào để cho họ tu tập. Khi thành Phật quả, Ngài mới hoàn toàn có khả năng, có 6 trí dành riêng cho vị Chánh Đẳng Chánh Giác thì Ngài khai triển toàn diện để Ngài độ, nhưng Ngài độ chỉ có chúng sanh hữu duyên thôi. Trong các ân đức, chúng ta thấy Purisadammasàrathi (Điều Ngự Trượng Phu) thì Đức Thế Tôn chỉ điều phục chúng sanh hữu duyên thôi, những chúng sanh nào biết nỗi khổ này do lòng tham ái. Ngài đã thực hành vì bi nguyện độ cho chính bản thân, quyến thuộc và chúng sanh thực hành theo, Ngài không thể làm gì hơn cho nhũng người không thực hành theo được, những chúng sanh đó gọi là vô duyên với Đức Phật. Trong (Túc sanh truyện) những kiếp Bồ Tát như làm khỉ, dã can, thỏ…, thì Ngài sanh làm con thỏ, Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên cũng sanh làm thỏ nhưng dưới sự hướng dẫn của Bồ Tát. Trong những câu chuyện Ngài làm súc sanh, Ngài cũng có trí tuệ, giảng những phương pháp nào để thực hành. Thí dụ có câu chuyện Đức Vua giết những con chó ở ngoài thành, lúc đó Đức Bồ Tát trong kiếp làm con chó ở ngoài thành, Ngài mới nói với Đức Vua: “… là đừng tư vị vì thương, vì ghét, vì si mê, vì sợ … Đức Vua hãy công chính liêm minh mà xử, những con chó nội thành cắn dây cương để những con chó ngoại thành không vào được mà Đức Vua chỉ truy xét những con chó ngoại thành, như vậy, Đức Vua không công chính liêm minh, không thuận theo pháp và không phước báu, chỉ đem lại sự đau khổ cho súc sanh ở ngoài thành mà thôi.” Như vậy, bất luận kiếp nào Ngài sanh ra Ngài nói với người nào mà người đó thực hiện được, Ngài nói những gì Ngài cần nói, Ngài dạy những gì Ngài cần dạy, Ngài giảng dạy lòng tham, sân , si, lòng duc… hại đến nhân vô vàng thì họ nhìn nhận lòng tham, sân si đó mà tu tập với phương pháp từ bỏ. Những chúng sanh hữu duyên để Ngài độ, nhưng ngay cả quyến thuộc không phải được Ngài độ hết, có những người Ngài cũng không độ được như Vua Thiện Giác, Đề Bà Đạt Đa…. là những người trong vòng thân tộc nội ngoại. Đức Phật chỉ độ những người hữu duyên và những người biết thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Ngài không thể nào độ hết tất cả chúng sanh hết khổ thì điều này không bao giờ có. Những chúng sanh như loài kiến có nhiều kiếp đến quả địa cầu đi nữa vẫn là kiến, không thể làm sao với những chúng sanh đó, trừ khi nếu chúng sanh đó tiến hóa, nghe lời dạy và thiện tâm tăng trưởng lần hồi có duyên cũng đến giác ngô. Những chúng sanh vô duyên thì Ngài để lại Tam Tạng kinh, luật, luận để hành theo, để lại Tăng chúng để hoằng truyền “Từ Bi” đối với chúng sanh nào có nghe, có học hành theo lời dạy của bậc Giác Ngộ và tạo duyên để Giác ngộ. Như vậy, lòng đại bi của Đức Phật cũng ở mức độ nào đó, các vị đệ tử của Ngài cũng kế thừa Giác ngộ để giảng dạy Phật ngôn, thiện nghiệp giúp đỡ chúng sanh bằng chánh pháp. Đó là đại bi to lớn mà Ngài làm được là cố giúp để chúng sanh nghe lời dạy của Đức Phật mà thoát khỏi khổ đau, giải thoát luân hồi. Ngài nói trong Tương Ưng Bộ Kinh, vì có sanh nên biết bao nhiêu nỗi khổ, nếu vô sanh thì không có bao nhiêu nỗi khổ đó. Đức Phật đã triển khai pháp vô sanh đó, là nhân diệt trừ tham ái chấm dứt khổ hiện hữu và khổ tương lai. Tóm lại, Bi nguyện của vị Chánh Đẳng Chánh Giác được thể hiện độ chúng sanh có duyên, và những chúng sanh còn luân hồi thì những vị đệ tử Ngài có duyên độ, những chánh pháp mà Đức Phật để lại cũng làm duyên để độ cho chúng sanh đó. Những chúng sanh ác, tật đố, tà kiến chấp sai… không bao giờ giác ngộ và phải rơi rớt vào khổ cảnh, Đức Phật không làm gì được hơn với những người đó. Mỗi pháp đều có thực tính của nó, ác pháp luôn đưa đến đau khổ và thiện pháp luôn đưa đến an vui. Đây là câu số 10 như đã trình bày trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115503773359433642?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115503773359433642/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115503773359433642' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115503773359433642'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115503773359433642'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115495988548090858</id><published>2006-08-07T07:06:00.000-07:00</published><updated>2006-08-08T04:43:34.746-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;color:#999900;"&gt;&lt;strong&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN VI&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Nghi lễ và Đời sống&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;p&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/?d=NLR6SA1V"&gt;http://www.megaupload.com/?d=NLR6SA1V&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;10 Câu hỏi về Nghi lễ và Đời sống&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nghi lễ có khiến cho các thiện nghiệp được tốt không ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có thứ nghi lễ khiến cho các thiện nghiệp được tốt, cũng có thứ nghi lễ không làm cho các thiện nghiệp được tốt mà còn trái lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghi lễ nào có áp dụng được người trí tán thán, không làm cho mình phiền tóai, không làm cho người khác phiền tóai, làm cho tăng trưởng chánh tín và được sắp đặt bởi trí tuệ. Đó gọi là nghi lễ giúp cho thiện nghiệp được tốt đẹp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghi lễ nào khi áp dụng có tạo ra sự phiền tóai cho mình hoặc cho người, không được bậc trí tán thành, có sự chấp thủ phi lý, thuộc giới cấm thủ, thì đó là thứ nghi lễ không làm cho thiện nghiệp được tốt đẹp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (Sư Trưởng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Đạo Phật Nguyên thủy đối với nghi lễ thế nào ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp&lt;/strong&gt;: Câu này chúng tôi phải chia làm hai để giải thích danh từ Đạo Phật Nguyên Thủy, chúng ta phải hiểu có hai cách mới được chính xác. Nếu Đạo Phật Nguyên Thủy đúng với ý nghĩa của từ ngữ này chỉ cho Đạo Phật từ lúc Đức Phật giác ngộ dưới cội Bồ Đề cho đến lúc Ngài viên tịch dưới cây song thọ. Những thế kỷ đầu có lẽ từ thế kỷ thứ nhất cho đến thế kỷ thứ năm, có lẽ nói một cách rộng rãi như vậy thì được xem như là thời kỳ Đạo Phật Nguyên Thủy mặc dầu trước khi Đức Phật Niết Bàn và sau khi Đức Phật Niết Bàn. Nói đến Đạo Phật Nguyên Thủy đối với nghi lễ thế nào trong thời kỳ đó, chúng ta sẽ hiểu một ý nghĩa khác, Đaọ Phật Nguyên Thủy bây giờ chúng ta hiểu chung chung những xứ Phật giáo Nam Tông thì cứ xem đó là Phật giáo Nguyên Thủy như từ Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào, kể cả Vân Nam, một phần đất ở Trung Quốc hay là ở Bangladesh có một số mấy chùa có từ xưa chúng ta đã biết có từ thời Đức Phật vẫn còn duy trì tới nay, hay là một số chùa chiền khác như người Khmer, mấy trăm ngôi chùa Khmer ở miền Tây Nam Việt của Việt Nam. Những xứ này được xem là Phật giáo Nam Tông và nếu là Phật Giáo Nam Tông thì gọi là Phật giáo Nguyên Thủy thì đây là ý nghĩa khác nữa, do đó chúng tôi phải phân ra hai cách này mới giải thích được. Trước nhất xin giải thích ý nghĩa thứ nhất, Đạo Phật Nguyên Thủy khởi đầu Phật giáo lúc còn ban sơ cũng chia làm hai: một là thời kỳ trước khi Đức Phật viên tịch Niết Bàn và sau khi Đức Phật viên tịch Niết Bàn từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ năm. Có lẽ trong thời đầu chúng ta được hiểu qua nghi thức của Phật giáo Nguyên Thủy, những nghi lễ lúc bấy giờ rất đơn giản. Nói về nghi lễ thuộc Tăng sự thì chúng ta biết những bộ như là Tiểu Phẩm hay là bộ Parivada là bộ cuối cùng có chỉ dạy những nghi lễ, nghi thức, làm những Tăng sự v..v… Còn nói về cách sinh hoạt với thiện nam tín nữ cư sĩ tại gia thì chúng ta tìm thấy một số nghi lễ rất đơn giản như là trong câu chuyện bổn sanh, chuyện pháp cú, có những câu chuyện khi Đức Phật với Chư Tăng đến Hoàng cung thọ thực hay đến nhà cư sĩ hay là những buổi lễ mà người ta đặt bát cúng dường đến Đức Phật và Chư Tăng. Như vậy, chúng ta thấy hình thức bắt thăm, bỏ bắt thẻ thời xưa để cúng dường tập thể hay cá nhân tuyển thí v..v… cũng được trong một số kinh điển được ghi chép lại. Mặc dầu trong thời Đức Phật có những trường hợp như vậy, nhưng tài liệu này được ghi chép lại về sau, mặc dầu gần với thời kỳ Đức Phật chưa Niết Bàn. Tuy vậy những nghi thức này chúng ta so với ngày nay rất đơn giản. Ngày nay đối với xứ Phật giáo Nam Tông mà cũng gọi là Đạo Phật Nguyên Thủy, những nghi lễ ngày nay chắc cũng không thể nói hết được. Mỗi vùng, mỗi xứ, mỗi quốc gia có những cách nghi lễ khác nhau. Và mỗi quốc gia như vậy, tuy rằng xứ Nam Tông, nhưng cũng có nhiều hệ phái, Tích Lan cũng có ba bốn hệ phái, Miến Điện cũng có tám chín hệ phái, ngay cả Thái Lan hay Campuchia ít nhất cũng vài phái v..v… Những cách kinh tụng Tam Tạng Pali là giống nhau nhưng nghi thức nghi lễ thì mỗi hệ phái nhỏ như vậy thì cũng có khác nhau. Đại khái chúng ta thấy có phái ra đường đấp y, có phái để y vai trái, có phái tụng kinh không có chuông trống gì cả….Bên Miến Điện có một phái để hở vai, để y vai trái khi đi ngoài đường hay đi máy bay đều hở y vai trái, những vị này mang đồ gọi là pháp cụ hay pháp khí gần như người Miến Điện cũng có chuông gõ v..v…. Còn nghi thức mỗi chổ cũng có cách khác nhau, có khi rườm rà kể cả cách tụng đọc giọng Pali cũng trại nhau. Như vậy gọi Phật giáo Nguyên Thủy mà ngày nay có các hệ phái như vậy thì nghi lễ được xem rất là quan trọng cần thiết. Quan trọng cần thiết đây không phải vấn đề là liễu sinh thoát tử, không phải quan trọng trên phương diện tu hành giải thoát, không phải quan trọng ở chổ đắc thiền đắc đạo, không phải quan trọng cần phải có mới tu được giới định tuệ, quan trọng ở chổ nếu như là lễ là lộc, vô lộc thì bất thành lễ, sở dĩ người ta thích tổ chức nhiều lễ vì người ta thích lợi lộc. Giả sử như những buổi lễ đó mà lợi lộc không có phát sanh thì làm một vài lần chắc cũng dẹp, nhưng nghi lễ tổ chức càng nhiều càng rườm rà, càng phức tạp chừng nào thì thấy vui như biểu diễn văn nghệ, lợi lộc nhiều, do vậy lấy kinh nghiệm kỳ này về sau phát triển khá hơn. Cứ như vậy, nghi lễ càng ngày càng đông, đương nhiên lợi lộc càng ngày càng nhiều. Như vậy chúng ta thấy nghi lễ phát sanh từ chổ lợi lộc, từ chổ lợi lộc mới phát sanh nghi lễ, nhu cầu cần thiết là quan trọng mới hợp theo ý của dân chúng. Hợp theo dân chúng mới có lợi lộc, có lợi lộc mới có cuộc sống, thiếu nó là thiếu phần lợi lộc. Như vậy cũng quan trọng trên phương diện lợi lộc chứ không phải trên phương diện giác ngộ giải thoát. Chúng tôi đã tóm lượt lấy đại ý giải thích nghi thức thời Đức Phật còn tại thế đơn giản như phúc chúc hay nói bài kệ hoan hỷ v..v…ngoài những Tăng sự ra. Nhưng sau khi Đức Phật Niết Bàn, có những bài kinh kệ được sáng chế thêm như những bài kinh như Parami v..v.. cũng được sáng tạo thêm nhưng cũng còn hạn chế không quá nhiều như ngày nay. Đây là đại ý câu trả lời của tôi, nếu giải cho hết không thể nào giải thích hết những xứ Phật giáo Nam Tông và một số nghi thức khác chúng tôi cũng chưa được biết đến, qua những xứ đó chúng tôi cũng lấy làm ngơ ngác mặc dù đấp y tu hành học Tam Tạng Pali thì giống nhau như những nghi lễ này không thể nào giống. Có đôi lúc chúng tôi dự mà không có lễ chung như là nhập chúng Chư Tăng người Miến Điện, nhập chúng cho vui vậy thôi nhưng tụng kinh khác nhau, nghi thức chuông lại càng khác lạ nữa. Đây là đại ý câu hỏi số 2.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Làm sao để phân biệt nghi lễ chân chánh và giới cấm thủ ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có bốn cứ điểm để phân biệt được đây là nghi lễ chân chính hay là nghi lễ thuộc giới cấm thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a/ Nghi lễ chân chính được bậc trí tán thành; nghi lễ giới cấm thủ thì không được bậc trí tán thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b/ Nghi lễ chân chính được áp dụng, một cách có trí tuệ, hợp lý; nghi lễ giới cấm thủ thì có tính bất hợp lý và áp dụng thiếu trí tuệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;c/ Nghi lễ chân chính được áp dụng nhằm mục đích đem lại hoan hỷ; nghi lễ giới cấm thủ thì tạo nên sự khó chịu bực bội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;d/ Nghi lễ chân chính là yếu tố giúp thiện tâm sanh khởi; nghi lễ giới cấm thủ thì làm cho sanh thêm tà kiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là cách phân biệt nghi lễ chân chánh và nghi lễ giới cấm thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Việc "cúng dường vào bình bát" có thể được xem là nghi thức không ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Bình bát trên phương tiện khất thực để sống và cũng là biểu tượng chánh mạng của chư Phật truyền dạy. Cúng dường vào bình bát trong tinh thần chân chính mang những ý nghĩa rất quan trọng như cúng dường không phân biệt, hộ trì mạng mạch của chánh pháp, xiển dương đời sống chánh mạng. Tại những địa phương mà sự đi khất thực của chư tăng vốn vốn quen thuộc thì khất thực và cúng dường vào bình bát là sinh hoạt hằng ngày. Ở những nơi khác đôi khi giống như một thứ nghi lễ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có một thứ nghi lễ cầu siêu nào trong kinh điển Pāli giống như "đàn chẩn tế" của Phật giáo Bắc Truyền chăng ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Không có. Đó là nghi lễ mang hình thái của mật tông Tây Tạng và Phật giáo Trung hoa. Tam Tạng Pāli có đề cập đến hai pháp siêu độ cho chúng sanh trong khổ cảnh là hồi hướng và chú nguyện. Cả hai đều có thể thực hiện với hình thức đơn giản. Không có bất cứ một nghi thức nào tương đương với "đàn chẩn tế bạt độ cô hồn" như trong Phật giáo Bắc Truyền.&lt;br /&gt;Câu 6 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có thể nào để phân định nghi lễ thế nào là thích hợp, thế nào là rườm rà ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Hầu như không có sách vở hay luật lệ nào quy định nghi lễ thế nào là thích hợp, thế nào là rườm rà. Tuy vậy có thể nói nghi lễ trang nghiêm nhưng đơn giản, có thể tiết kiệm thời gian, tiền bạc, mà vẫn thể hiện được ý nghĩa trang trọng của buổi lễ là nghi lễ thích hợp. Còn những nghi lễ kéo dài, nặng về hình thức, phô trương, tiệc tùng linh đình, rộn ràng, tuy có thể thu hút sự chú ý của đám đông, nhưng tốn kém, lãng phí tài lực, nhân lực, và chưa hẳn đã có tác dụng tốt đến quần chúng một cách tích cực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những nghi lễ Phật giáo nên chú trọng đến mặt tinh thần, gợi cho người Phật tử nhớ đến Tam Bảo và có cảm hứng hơn nữa trong việc tu hành, không nên quá chú trọng đến hình thức, văn nghệ v.v… vì nếu đi quá đà sẽ khiến cho người ta ham vui mà quên đi ý nghĩa thiêng liêng của lễ hội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (Sư Trưởng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phải chăng đối với người Phật tử chân chính thì nghi lễ càng đơn giản càng tốt ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Câu này chúng tôi không dám xác định hay là trả lời một chiều cũng phải tùy trường hợp. Thí dụ như nếu trong một buổi lễ dâng y mà biết những nghi thức căn bản như Phật tử tề tựu, Chư Tăng quan lâm, lễ bái Tam Bảo, thuyết pháp, cử hành lễ dâng y, lễ trai tăng, và phúc chúc, hồi hướng. Như vậy buổi lễ đơn giản trong vòng buổi sáng là có dư thời gian nữa, vậy đơn giản càng tốt. Nếu buổi lễ dâng y cũng vậy, nhưng người ta bày ra những tác bạch cái này tác bạch cái kia, rồi dậm giá thêm rồi những văn nghệ v..v… tới khi mục chính thì lại phớt qua, thí dụ như trường hợp tôi gặp hoài. Trong kinh luật căn bản không có mà làm thêm tính cách pha chế, mất thì giờ, tới giờ thuyết pháp thì hết thì giờ chỉ yêu cầu xin giảng 15 phút hay 20 phút. Đúng ra buổi lễ thuyết pháp cần có thì giờ trên dưới một tiếng để vị Pháp Sư giảng rộng ý nghĩa Phật Pháp nhiều điều cần thiết, còn Tăng sự thì Chư Tăng tụng tuyên ngôn làm việc Phật sự, không thể tóm tắt đơn giản hay là bỏ sót được. Như vậy, buổi lễ này chúng ta có thể nói rằng càng đơn giản càng tốt, càng pha chế nghi thức càng nhiều thì không có hay. Nhưng nếu một cuộc cho tu, có cả trăm giới tử, mỗi vị Sadi lên Tỳ Kheo, mỗi lần tu thì chỉ có hai vị thôi, ở VN thì có hai vị, rồi cứ tụng xong như vậy là một cặp, rồi cặp này thành tựu xong rồi mới cho tu một cặp kế nữa. Nếu vậy một trăm vị mà tu lên Tỳ Kheo thì phải tụng tuyên ngôn đến 50 lần, nhưng bây giờ vì mõi mệt thì bây giờ gom hết 100 vị đó rồi hỏi Chư Tăng đồng ý cho các vị này thành tựu cả thảy: “Chư Tăng có đồng ý không, nếu đồng ý thì im lặng, nếu không đồng ý thì trả lời” nói xong không thấy Chư Tăng chưa kịp giơ tay thì tuyên bố: “do sự im lặng của Chư Tăng, chúng tôi xin ghi nhận là Chư Tăng đồng ý” như vậy là thông qua. “Như vậy, 100 vị này đều thành tựu Tỳ Khưu cả thảy!” Vậy điều này càng đơn giản càng không tốt được! muốn cho gọn thì không được, và nhiều hình thức tương tợ như vậy nên không nói rằng tất cả trường hợp nghi thức nghi lễ càng đơn gỉan càng tốt, cũng tùy vào phương tiện mà chúng tôi vừa trình bày. Đó là đại ý câu trả lời của tôi đối với câu số hỏi 7.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (Ni Sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Nghi lễ trong Phật giáo có mang tính "gia giảm tùy nghi" hay phải theo luật định nào đó trong kinh điển ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có thể phân các nghi lễ Phật giáo ra làm hai loại: những nghi lễ đã có từ thời Đức Phật và đã được quy định trong rõ ràng trong kinh điển, và nghững nghi lễ chỉ xuất hiện sau này, không được ghi trong kinh điển. Những nghi thức đã có thừ thời Đức Phật như nghi thức qui y, nghi thức thọ ngũ giới, nghi thức thọ bát quan trai giới, nghi thức cúng dường trai tăng, nghi thức cúng dường y tắm mưa, nghi thức cúng dường y kat.hina đều đã được quy định rõ ràng, và hầu như tất cả các nước Phật giáo Nam tông đều theo cùng một cách thức như nhau (xem cuốn “Cư Sĩ Giới Pháp” của Thượng Tọa Giác Giới).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn những nghi lễ xuất hiện sau thời Đức Phật như lễ Phật Đản, lễ Vu Lan, lễ An Vị Phật, v.v… thì do không có quy định trong kinh điển, nên có thể “gia giảm tùy nghi” tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân hay địa phương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (TK Tuệ Quyền trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Những món quà, thiệp chúc mừng có nên xem là điều phải có để thể hiện hiếu đạo không ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Tùy theo quan niệm phong tục văn hóa, tín ngưỡng của mỗi dân tộc và đạo giáo mà có những sự thể hiện hiếu đạo khác nhau. Theo thế thường thì con người luôn xem giá trị vật chất là điều cầu thiết để tô đắp tinh thần cho những đấng sanh thành như là phụng sự lo lắng nhiều món ngon vật lạ dâng đến cha mẹ hay những lời chúc tụng …&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tinh thần của Phật giáo ý nghĩa hiếu hạnh không chỉ là những vật lễ chúc mừng, mà Đức Phật nêu cao giá trị Tâm Hiếu người con cần phải có những bổn phận trách nhiệm sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Nuôi dưỡng Cha Mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Làm việc thay Cha Mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Giữa truyền thống gia đình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Sống xứng đáng kế thừa tài sản của Cha Mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* Khi Cha Mẹ chết làm phước cúng dường đến chúng Tăng để hồi hướng đến Cha Mẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;Câu 10 (TK Tuệ Quyền trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Thời gian có giá trị nghi lễ gì trong đạo Phật như ngày rằm tháng Bảy hay Vu Lan ... ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có thể nói giá trị thời gian trong nghi lễ không là một tiêu điểm nhất định. Mà người con phải luôn tưởng nhớ đến công ơn sanh thành, nuôi dưỡng của Cha Mẹ trong mọi hoàn cảnh, khi đã tạo những việc lành. Đức Phật dạy phải luôn hướng nguyện đến Cha Mẹ đã quá vãng. Ngày lễ Vu Lan chỉ là một nhân sự tùng sự và từ đó đặt định cho giá trị truyền thống để mọi người cùng quay về tưởng nhớ.&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115495988548090858?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115495988548090858/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115495988548090858' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115495988548090858'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115495988548090858'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn-vi.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115486309321305843</id><published>2006-08-06T04:16:00.000-07:00</published><updated>2006-08-21T04:23:44.453-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN V&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Tình Người&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/de/?d=WT4AQ99S"&gt;http://www.megaupload.com/de/?d=WT4AQ99S&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (Sư Trưởng trả lời, tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Tâm từ bi có gì khác và có gì giống với sự yêu thương được nói theo thường thức ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Chúng tôi xin có vài lời như cách luân khởi hay dài dòng một chút, VN có những từ ngữ mà khi tôi gẫm cũng hay mà tôi có tật hay chơi chữ, đâm hoàn vào chữ kia, những gì tôi sắp nói có lẽ chắc không giống trong tự điển. Tiếng VN mà tôi thường hay nói đùa mà tôi cảm thấy hay hay có ý nghĩa riêng theo của tôi. Khi nói đến chữ “tiền” thì người ta nghĩ đến “tiền tệ” mà chữ “tình” thì cũng là “tình tệ”. Ở đây tôi hiểu nghĩa chữ “tệ” giống như “tệ hại” và “tình” cũng là tệ, do đó khi có tiền thì người ta nghĩ đến tình, có tình thì nguời ta nghĩ đến tiền, nên cả hai tình, tiền đều tệ cả. Đó là từ ngữ mà chúng ta xử dụng ở đây để được nói lên ý nghĩa mà chúng tôi muốn nói, có thể tạm xem như bất chấp văn tự đi là để chúng ta diễn đạt ý nghĩa tại sao vậy. Vì chữ “Từ Bi” đối với Phật Giáo, khi mà ai ca ngợi Đạo Phật là đạo Từ Bi thì tôi cảm thấy hình như có cái gì hơi nhột nhột, hơi ngứa ngứa cần cổ, nhưng cũng có lúc cần thiết hợp thời giải thích, đôi khi không cần thì thôi, nói ra sợ đụng chạm. Đúng ra chữ “Từ Bi Hỷ Xả” thì tứ vô lượng tâm này trong Đạo Phật vẫn được nói đến, mà chúng tôi nhớ đến vị Bổn Sư của tôi thường nói: “Tứ vô lượng tâm này chỉ để xả giao với chúng sanh”, nhờ có tứ vô lượng tâm, rồi tứ nhiếp pháp, đó là cách vừa xả giao với chúng sanh, mà cũng để làm việc với chúng sanh hơi có ướt át một chút, thấm thấm một chút để dễ làm việc, nếu khô khan quá thấy như là cái đạo vô tình. Như vậy, chữ “từ bi” này mà còn không phải là cốt lõi của Đạo Phật, mà Đạo Phật nếu nói trên phương diện căn bản là phải nói là trí tuệ. Chính vì trí tuệ này mới đưa đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát, và chữ “Từ Bi” trong Phật giáo, thì chúng ta được biết, nói theo A Tỳ Đàm, “Từ” là tâm sở “Vô Sân”, “Bi” cũng là “Tịnh Hảo”, và hai tâm này nằm trong phạm vi những tâm tịnh hảo hay Sobhana là tâm tốt hay tâm tốt đẹp. Còn chữ Tanhà hay ái, Lobha là tham thì nó nằm trong loại tâm tham mà tham nằm một trong ba loại tâm bất thiện. Do đó chúng ta phải phân biệt giữa từ bi với tình cảm, tình thương v..v… không khéo giống như người ta bắt nhầm con rắn hổ xậy mà tưởng con rắn buông sún rất là nguy hiểm. Và đường tơ kẻ tóc này người ta sẵn sàng bước qua biên giới đó có thể một vài gan vài tất thêm nữa, khi nói đến tình thương thì người ta ca ngợi như một cái gì thiêng liêng. Quả thật vậy, nếu như Đạo Thiên Chúa thì người ta sẵn sàng nói Jesus là tình yêu là thượng đế hay là thượng đế là tình yêu, đều này chúng ta không có gì để bàn bởi vì mỗi tôn phái hay tôn giáo người ta có lập luận riêng. Nhưng nếu nói theo Đạo Phật thì phải nói đến đạo giải thoát mới là căn bản là cốt lõi chứ không phải là nói đến từ bi hỷ xả mặc dù từ bi hỷ xả là đặc tính của phạm thiên không có liên quan gì đến tham ái, nhưng vẫn xem đó là chế định. Tại sao? Bởi vì Từ Bi Hỷ Xả phải bắt cảnh chế định tức là lấy chúng sanh làm đối tượng, chúng sanh đau khổ, chúng sanh hạnh phúc v..v… từ đó mới khởi lên trạng thái tâm từ bi hỷ xả này. Như vậy, ở đây chúng tôi nói trước cái tinh túy cái cốt lõi của Đạo Phật trước chứ không hề có ý phủ nhận gì cả, và thứ đến hỏi về tâm từ bi có gì khác, có gì giống với sự yêu thương được nói đến đây không?. Nếu yêu thương được nói đến như một sự trìu mến thì nó phát xuất từ tham ái, điều này từ bi với tham ái cách biệt nhau quá rõ ràng, không giống nhau. Nhưng trạng thái hơi giống nhau ở cử chỉ hay hành động tương đối nào đó, thí dụ như tâm từ quá mạnh thì hơi gần giống như tâm tham ái quá nhẹ, thì hai cái này hơi gần giống với nhau. Nếu tâm tham quá mạnh thì nó có rõ nét v..v..do đó nên là tâm tham quá nhẹ thì so với tâm từ hơi khá mạnh thì hai cái gần giống như nhau. Qua những câu chuyện thí dụ mà thí dụ thì không hẵn là sự thật, Đức Phật đã thí dụ như trong bài kinh Từ Bi, giử gìn như mẹ giử con, như từ mẫu đối với người con, đây là nói lên thí dụ người có tâm từ bảo vệ như vậy. Cũng giống như đề mục hơi thở thì Đức Phật cũng có cho thí dụ người gìn giử đề mục hơi thở đó cũng giống như là một vị hoàng hậu gìn giử bào thai Chuyển Luân Vương, tức là biết bào thai này là sẽ sanh ra vị Chuyển Luân Vương thì bà mẹ hết sức là gìn giử. Tình mẫu tử đương nhiên là có sự yêu thương rồi, nhưng nếu cái thai đó là thai của vị Chuyển Luân Vương thì càng quý trọng hơn, như vậy, với một người hành giả tu tập về hơi thở, gìn giử đề mục mình một cách trân trọng, thường xuyên, luôn luôn hết sức là cẩn trọng. Đã là thí dụ, thì từ thí dụ chúng ta hiểu ý nghĩa, cũng vậy, tu tập về tứ vô lượng tâm, Từ Bi Hỷ Xả này cũng như là bà mẹ yêu thương người con, gìn giử đứa con không xa lìa, đó là nói về đề mục Từ Bi Hỷ Xả mà chúng ta được hiểu đến, đó là một điều mà chúng ta thấy như là gần gần giống như nhau. Còn qua vấn đề tình thương trìu mến này, đối với con người hay nhân loại ngày nay cũng đặc nặng vấn đề tình cảm tình thương này nhưng được phát xuất một cách rất là hồn nhiên hay gần như là thường cận y duyên, bởi vì không phải loài người mới có tình thương trìu mến, mà loài thú cũng có loại yêu thương trìu mến này, tình mẹ con giống nhau giữa loài thú và loài người không khác. Ở loài thú, chúng ta khó phân định được loài thú có tu tập tứ vô lượng tâm là từ bi hỷ xả, nhưng mà loài thú chắn chắn có sự yêu thương, loài thú chắc chắn có sự luyến ái. Điều điển hình nhất là chúng ta biết như trong câu chuyện mà nhắc về Đức Bồ Tát trong quá khứ, có một kiếp Ngài sanh làm con chim trống, Bà Da Du Đà La sanh làm con chim mái. Khi lửa rừng cháy đến thì cả hai con chim trống chim mái vẫn thương mến con, và lúc đầu cả hai con chim này có sự cam kết với nhau thà là sống chết ở lại với con chứ bỏ con đi không đành, nhưng khi lửa cháy tới thì nóng quá, con chim trống bay lên bỏ lại, con chim mái không phải vì giử trọn lời hứa lời nguyện, nhưng vì tình thương mẫu tử, tình yêu thương này đặc biệt nên con chim mái không bỏ đi, cuối cùng ở lại chết với những con chim con. Câu chuyện được kể sau kiếp luân hồi đó, khi mà con chim mái chết về sau sanh lên làm người, sanh làm một người con gái, thì tình hận là bất cứ người đàn ông nào cô cũng không thích nói chuyện vì cô nhớ câu chuyện quá khứ một người chồng rất là yêu thương tin tưởng, thế mà cuối cùng như là nuốt lời bỏ bà trong kiếp đó. Nên về sau kể cả cha cô gái cũng không chịu nói chuỵện nữa, thành riết rồi ông cha mới giận con gái ông không chịu nói chuyện bất cứ người đàn ông nào, con trai nào trong thôn xóm từ nhỏ tới lớn, kể cả người cha cũng không chịu nói chuyện nữa. Ông cha vừa giải quyết vấn đề gia đình cho con và cũng hơi bực bội nên ông có thông báo nếu bất cứ thanh niên nào, đàn ông nào mà con gái ông chịu nói chuyện thì ông sẽ gả cho người đó, bất cứ người nào tuổi tác lớn hay nhỏ ông cũng sẽ gả. Tin đồn thông báo nên nhiều người thanh niên đàn ông đến để mà gặp nhưng cũng không bao giờ được cô gái này tiếp chuyện cả. Bồ tát cũng nhớ đến kiếp chuyện xưa cũng xin đến với một điều kiện biểu người cha phải làm như vậy như vậy …tức là để một phòng khách phía bên ngoài, nói để cho cô gái kia bên trong nghe được. Khi mà ông cha hỏi cậu khó khả năng nào mà nói chuyện với con gái tôi được thì tôi sẽ gả con gái tôi cho cậu, thì người thanh niên này là tiền thân của Đức Phật mới nói: “tôi thấy ông ra điều kiện như vậy tôi đến cho biết thôi chứ tôi không ưa đàn bà, người đàn bà là người giả dối, người đàn bà hữu thủy vô chung, người đàn bà miệng nói một nơi mà làm một ngã. Tôi nhớ có một kiếp nọ là tôi sanh làm con chim trống với chim mái, trong lúc đó có những con chim con, lửa rừng cháy thì tôi với con chim mái, hai vợ chồng mới hứa với nhau là bỏ con không có đành, như vậy dầu cho sống thì cùng sống, chết thì cùng chết, con chim mái cũng hứa. Nhưng mà rồi khi lửa rừng cháy tới thì con chim mái nóng quá nó bay lên bỏ đi, thành ra tôi phải ở lại tôi chết với con tôi nên bây giờ tôi ghét người đàn bà lắm. Con chim mái nó bỏ chồng bỏ con, nó đi chổ khác kiếm con chim trống khác, nó bỏ cha con tôi bị lửa cháy nên bây giờ tôi không có ưa đàn bà, đàn bà vầy đàn bà kia thật là …xấu.” Trong lúc nói như vậy, cô tiểu thơ kia lại nhớ lại tiền kiếp cô hận người đàn ông không chịu nói chuyện, tức quá cô vén màng cô mới nói: “ông đừng có nói ngươc! Chính người nói mà không chịu giử lời người phản bội đó chính là ông v..v..” thì Bồ Tát và người cha của cô gái này cười xòa lên vì đã lời giao kết nếu cô gái nói chuyện với người nào thì ông cha gả. Thế là cô cũng thoát khỏi, cuối cùng cũng phải làm vợ Bồ Tát kiếp nữa. Câu chuyện này cũng khá vui, nhưng mà dù câu chuyện có thật hay ngụ ngôn đi nữa cũng cho chúng ta thấy rằng tình thương luyến ái mẫu tử không phải người ta mới có mà con thú cũng có tình thương luyến ái đó như vậy. Điều này không nói đến kinh sách đâu xa, cách đây mấy năm, khi tôi về dưới quê ở Vĩnh Long, có lần bên xóm người ta xin cây dừa để làm cái cầu thì khi tôi cho, tôi cho đốn cây dừa để làm cầu. Lúc cây dừa ngã, cũng giống như câu chuyện Bồ Tát kiếp chim như vậy, chính mắt tôi thấy rõ cây dừa chưa kịp ngã thì con chuột đực đã nhảy xuống cái ao trước rồi. Đến khi cây dừa ngã xuống, đập xuống thì trong ổ chuột trên cây dừa có ba con chuột con, hai con văng ra ngoài bị thương, có một con còn nguyên vẹn vì chính con chuột cái ôm ổ con, mà không bảo vệ được khi cây dừa đập xuống quá mạnh văng ra hai con và bị thương, còn một con vẫn còn nguyên. Bao nhiêu người họ thấy và họ chạy lại nói: “chuột, chuột”, lúc bấy giờ tôi vừa nghe tôi liền la lên sợ mấy người kia đập: “đừng có đập, đừng có đập nó”. Lúc tôi vừa đến, tôi vừa nhìn vô, lập tức con chuột nhảy lên, lúc đó tôi mặc hồng sắc thì con chuột nhảy lên hồng sắc của tôi, nó đeo. Tôi mới chỉ cho mấy người chung quanh xóm cũng khỏang mười mấy người đàn ông thanh niên xin cây dừa để làm cầu. Tôi nói: “Các vị thấy không, bao nhiêu người sao nó không đeo, mà nó lựa tôi tới nó mới đeo, nó cũng biết ông Sư là có lòng Từ Bi”, và rồi tôi để nguyên như vậy, tôi đi ra chổ cái ao, tôi tới đám cỏ có con chuột đực nhảy xuống trước đó, tôi nói: “Chổ này an toàn này con, xuống đi”, thì vừa nói là con chuột cái nhảy xuống đám cỏ. Tôi vô lấy cái miểng dùa, tôi hốt cái ổ chuột đó, hai con chuột văng ra và con chuột còn nguyên tôi để vào đó. Tôi đem ra ngoài đám cỏ tôi kêu: “ Mấy em đây nghe hông, hai vợ chồng lát coi đem về đứa nào bị thương lo thuốc men, còn đứa còn nguyên đây nghe hông…”. Tôi nói như vậy rồi đi dùng cơm trưa, đến khi một hai giờ tôi ra, thì coi lại ổ chuột vẫn còn nhưng ba con chuột con đã mất. Rõ ràng, con chuột vẫn biết và nó biết nghe được và nó đã đem con nó đi. Đây là câu chuyện trước mắt tôi thấy rõ ràng chứ không phải như câu chuyện Bồ Tát trong quá khứ như trên. Hình như dạng đàn ông của chúng ta hình như có như vậy đó, làm gì làm không có thương ai cho bằng thương ta, đến lúc cây dừa ngã đến lúc lửa cháy thì phải vọt trước cái đã! Rồi hãy hồi phân giải! Đó có lẽ đàn ông sống về lý trí, còn người nữ thì đa số nặng về tình cảm, dầu cho loài thú như con chuột, con heo, con bò v…v….con chó mà khi chúng ta đi gần, khi mà chúng có những con chó con, đôi khi nó ra cắn cũng có nữa. Tôi có bị một dấu thương, con chó cắn hồi còn nhỏ vô tình tôi đi gần thôi mà nó tưởng đến bắt con nó, nó chạy ra cắn. Điều đó rõ ràng, thậm chí đến con vịt mà chúng ta thấy như là vịt xiêm, bình thường rất sợ người ta, nhưng khi nó có bầy con rồi mà đi gần nó, nó sẵn sàng chạy ra đá lại liền. Tôi cũng bị vịt đá một hai lần. Điều này chúng ta thấy tình thương, nhất là tình mẫu tử này không có gì là đặc biệt, dầu là loài người có tình thương, loài thú cũng có tình mẫu tử, tình thương này bao huyện dầu cho loài thú không hề biết lý tính, không hề biết đạo đức, hay không biết kinh sách mà tự nhiên bản chất mẹ thương con là tự nhiên cố hữu rồi. Như vậy chúng ta giải thích vấn đề tình thương, Từ Bi, hai lãnh vực, hai khía cạnh bên ngoài có thể giống với nhau qua những câu thí dụ như gìn giử đề mục Từ Bi như mẹ giử con, nhưng mà tình yêu thương luyến ái khác với tâm Từ Bi vì Từ Bi là tâm hòa dịu đối với tất cả chúng sanh, không phân biệt kẻ thân hay sơ. Dầu Đề bà Đạt Đa là kẻ phản đồ vẫn nhìn nhận Đức Phật xem Đề Bà Đạt Đa không hơn gì Ràhula và Ràhula không hơn gì Đề Bà Đạt Đa, nghĩa là tâm của Ngài đối xử với trạng thái khi nào cần làm thì Ngài sẽ làm, cho Đề Bà Đạt Đa xuất gia cũng như cho Ràhula một Thánh sản xuất gia. Đó là trạng thái tâm từ rất rõ ràng, nhưng mà tâm từ này như đã nói, lấy chúng sanh làm đối tượng tức là hình thức chế định, còn căn bản nói đến danh sắc hay ngũ uẩn, trong đó không nói đến vấn đề Từ Bi Hỷ Xả này, quán danh sắc là danh sắc, ngũ uẩn là ngũ uẩn. Như vây, chúng ta tương đối phân tích thế nào là cốt lõi của Đạo Phật, thế nào là phương tiện của Đạo Phật, mặc dầu phương tiện đó nhưng có ranh giới hẵn hòi. Từ Bi Hỷ Xả khác với tâm tham ái mà gọi là tình thương.v..v… nhưng trong tình thương đó, người ta còn nói đến chữ ái phân ra nhiều ái, ái cao thượng theo đời như ái quốc được xem như cao thượng, hay mẫu ái tử hay con yêu thương cha mẹ thì người ta cho đó là tình yêu tốt, còn tình yêu nam nữ vợ chồng chung thủy nhau cũng được xem là tốt, nhưng luyến ái không được trong hệ thống nào đó thì xem là xấu. Ái cũng có ái thượng ái trung ái hạ nhưng ái vẫn là ái không có tâm từ, Từ là từ chứ từ không phải là ái, Từ Bi Hỷ Xả là phương tiện xả giao cho chúng sanh mà thôi, bắt cảnh chế định như vậy chứ không phải là cốt lõi của Đạo Phật. Tùy chúng ta xử dụng nhưng khéo xử dụng đừng nông nổi chúng ta đồng hóa hay giải thích một chiều nào đó rồi đi quá sâu đề cao quá đáng trở thành vô tình mà chúng ta đi ngược lại Tông chỉ của Đạo Phật. Và câu hỏi số 1 tôi xin trả lời đại ý là như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (Sư Trưởng trả lời, tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Với một người tu tập, tình thương có cần thiết không ? cho mình và cho người khác ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có đôi lúc tôi tự hỏi, nếu không có tình thì không sống được hay sao mà người ta phải đem chữ “tình” vô chi cho quá nhiều, bởi vì bản chất tình như tình thương, tình cảm, tôi vẫn còn là hữu tình chưa phải là vô tình, đã gọi là hữu tình thì đương nhiên vẫn còn hỷ , nộ, ái , ố, tôi vẫn còn tình thương, tình cảm …nhưng mà đây không phải là trạng thái cần đề cao! Vẫn không có chữ tình vẫn làm việc được như tu tập, dù cho Phật tử cúng dường, mình vẫn cảm thấy hoan hỷ với tư cách như là Ngài Xá Lợi Phất nhớ ơn Ông Bà La Môn Radha sau cho tế độ cho vị này tu. Chắc quý vị cũng đồng ý với tôi, trạng thái nhớ ơn của Ngài Xá Lợi Phất và tư cách tế độ cho Bà La Môn Radha tu, Ngài Xá Lợi Phất không phải vì tình thương hay tình ái vì Ngài là vị A La Hán, mà chỉ là tư cách tri ân và báo ân, điều này được Đức Phật khen ngợi là với tư cách người tri ân và báo ân, là hai hạng người khó kiếm. Thành ra trong lúc tôi làm những việc Phật sự Phật Pháp đó, kiểm điểm trong tâm mình những việc làm này có liên hệ với chữ “tình” hay không, bất cứ chữ tình đi chung với chữ ghép nào đầu hay đuôi cũng được. Đôi lúc chúng tôi thấy nhiều khi không cần có chữ tình kèm theo mà vẫn làm được, thí dụ như dạy một lớp học mà tôi phải chấm thi hàng trăm Tăng Ni, cũng có những người đối đãi với tôi tốt như dâng hô, hay xả giao, hoặc có những người gởi gấm học trò v..v…nhưng mà tự nhiên tôi thấy có cái gì tình cảm vào đó thì quả thấy tình tệ, tôi không dám nghĩ mình như là Bao Thanh Thiên nhưng trong lúc chúng tôi chấm thi thì chúng tôi gạt qua tình cảm lung tung lộn xộn. Những vị thầy gởi gấm học trò hay những vị Thầy hay Sadi, Tỳ Kheo, Tăng sinh Ni sinh theo học, dù sau đó họ có buồn có ghét có thương như thế nào mặc kệ, chấm thì phải đúng điểm để mà chấm. Thậm chí những quà cáp hay những gì mà người ta dâng hộ trước hay sau hay đang lúc, đôi lúc thấy thô tiễn quá thì từ chối, nếu vi tế chút thì coi như hình thức cúng dường thì cũng tạm nhận. Trong lúc tôi làm việc như vậy, đương nhiên cũng có người thương người ghét, chứ không phải hoàn toàn ghét hết, nhưng tôi không thấy cắn rứt lương tâm hay khó chịu, kể cả lúc tu thiền hay dạy học thuyết phápv…v…. khi loại ra tình bất cứ là tình nào, tình cảm, tình thương… nói chung là tình tệ, tạm thời gát qua. Mặc dù chúng ta là hữu tình, đôi lúc quên mình chúng ta vẫn có loại tình nào đó khởi lên, thí dụ như trong thân bằng quyến thuộc con cháu mình cũng đi tu, rồi trong số Chư Tăng cũng đi tu, trên phương diện xử sự căn bản hay chia tứ vật dụng v..v… thì giống nhau không có gì khác. Người bên ngoài nhìn vào thấy mình chí công vô tư, nhưng thật tình ra người thân mình, điều này tôi không thể làm được, thí dụ như cùng Chư Tăng với nhau trong đó có những Sư là con là cháu là thân nhân, khi mà họ hữu sự, hình như tự đáy lòng khởi lên mà bình thường không để ý, quả là mình còn có cái riêng tư, con cháu mình có hơi khác hơn người không phải là con cháu mình. Điều này tôi không phủ nhận có, nhưng không vì lẽ đó mà khi làm việc hay chia tứ vật dụng mà mình có thiên vị, đó là không nên. Cho nên trong vấn đề tu tập hay hình thức nào đó như hành thiền hay thuyết pháp giảng đạo hay làm mọi công tác từ thiện v…v.. thì tôi nghĩ y cứ theo pháp mà làm, chứ không có tình vô đó. Như tôi đã nói khi nảy, không phải lòai người mới có chữ tình mà loài thú vẫn là chữ tình nặng hơn nữa, nhưng lòai người khác hơn loài thú nhờ có học thức, có sách có vỡ, nên dầu hèn cũng thể, bên trong giữa tình thương của loài người bên ngoài biết làm màu mè, che đậy không lộ liễu như loài thú. Nhưng chữ tình thương này người ta rất thích, lúc nào người ta thấy tình thương có sự ngọt ngào, thì quả thật vậy, đây là vị ngọt của sắc pháp, đây là vị ngọt của các cảm thọ, điều này Đức Phật nói rất rõ: “ Đây là sắc, vị ngọt của sắc, sự nguy hiểm của sắc và sự thóat ly khỏi các sắc, thọ cũng vậy, thấy rõ thọ, thấy thú vị hay vị ngọt của thọ, thấy sự tập khởi của các thọ, thấy sự xuất ly và nhàm chán của cảm thọ, tưởng hành thức cũng như vậy.” Cái gọi là vị ngọt là cảm giác mà trong kinh nói rõ, cái gì mắt thấy tai nghe đem đến trạng thái hỷ, lạc đó thì gọi là vị ngọt. Chính hỷ lạc này là tham ái mà còn gọi danh từ là tình thương tình cảm v.v… đó là vị ngọt của ngũ trần, đối với ngũ uẩn cũng vậy. Chính vị ngọt đó, thú vị đó đưa đến nguy hiểm, ý thức được điều này, thấy nguy hiểm, tội lỗi mới nghĩ đến sự xuất ly. Nếu tu tập đến giai đọan xuất ly rồi thì tất cả tình nào đi nữa là vị ngọt có cái nguy hiểm nên đọan diệt chứ không phải nên phát triển. Câu hỏi trên, nếu trên phương diện xả giao,đôi lúc chúng ta làm việc chùa chiền thì nhờ phương tiện này cũng hơi dễ làm việc một chút… nếu cho đó là cần thiết chúng tôi không phủ nhận điều này, nhưng trên phương diện tu để giải thoát thì không cần có loại tình thương này. Đây là những gì tôi trình bày xem là ý riêng của tôi, chúng tôi không dám khẳng định những gì chúng tôi nói hoàn toàn là chân lý. Đó là nhận xét về tư kiến của chúng tôi đối với câu số 2 này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Tình cảm có thể được "huấn luyện" hay không ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Tình cảm có thể được huấn luyện, vì tình cảm và ly trí vẫn đang có trong ta mỗi người để kết nối và có thể dìu dắt cùng đưa đến chổ hướng thượng, nên trong hạnh phúc kinh dạy, mỗi người đều phải có phận sự tiếp độ quyến thuộc của mình, và cũng chính vì tình cảm với nhau mà mọi người cùng làm các việc lành trong các thiện sự công đức. Vì chúng sanh là hữu tình, hữu tình giác vẫn nhắc nhở nhủ khuyên và dạy dỗ, nên trong đời sống không thể tách rời tình cảm được, và làm sao tình cảm ấy luôn được hướng thượng với trí tuệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (TK Tuệ Quyền trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Phải chăng lý trí nhiều quá có thể làm hỏng "tình người" ? &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Ly' trí là chi² biê't phu.ng thò’ mô.t chu² nghiã, ho.c thuyê't, mô.t su’. mu’u tính, mu’u toan, ly' trí này thuô.c vê` cu’.c ðoan ( duy ly').&lt;br /&gt;Loa.i ly' trí kiê²u này såñ sàng hy sinh tâ't ca² (trong ðó có luôn “tình ngu’ò’i” ) ðê² làm hoàn thành ðê² mu.c ðích cu²a ho..Ly' trí trong Phâ.t giáo bao hàm nhiê`u yê'u tô', phâ²m châ't cu²a mô.t bâ.c tru’.o’ng phu, quân tu’² nhu’ là: Trí tuê. - Quyê't Ði.nh - Ðiê`m Tiñh.&lt;br /&gt;Ngu’ò’i Phâ.t giáo sô'ng bå`ng ly' trí, tú’c là y' thú’c ro~ nghiê.p báo, nhân qua², phân biê.t thi. phi thiê.n ác, so’~ hành ðúng mu’.c tù’ ðó se~ giúp cho cái “tình ngu’ò’i” ðu’o’.c thång hoa, ða.t ðê'n chân thiê.n my~.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có trường hợp nào trong cách xử sự của Ðức Phật cho thấy tình tốt hơn lý ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Đức Phật là bậc giác ngộ, Ngài viên mãn hạnh đức bi-trí, do vậy trong cách xử sự của Ngài luôn có sự khéo léo và uyển chuyển, dung hợp tình lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với những người thiện căn, khuynh hướng tốt, thì Đức Phật đối với người ấy Ngài thường dùng cách khoan nhượng để dẫn đắt họ vào chánh đạo. Còn đối với người có khuynh hướng xấu thì Ngài nghiêm khắc khi cần dẫn dắt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có rất nhiều trường hợp trong cách xử sự của Đức Phật cho thấy mình tốt hơn lý. Như trường hợp Ngài tế độ công nương Yasodhara, hoặc như da xa Alavaka, hoặc như người nông dân ở Magadha. v.v... Những trường hợp ấy nếu xử sự duy lý thì không thể dẫn dắt được họ qui về chánh pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TK Tuệ Quyền trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Người ta thường xem tình cảm thuộc về cảm xúc vậy lòng từ bi trong đạo Phật có đi với trí tuệ không ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Tình ca²m, ca²m xúc thuô.c vê` yê'u tô' “tâm ly' chu² quan” . Tú’c là xu hu’ó’ng theo su’. thu’o’ng ghe't cu²a chính mình. Khi yêu thì lo lå'ng chu tòan tâ't ca², khi ghe't thì ða.p ðô~ mo.i thú’. Các hành xu’² nhu’ vâ.y hoàn toàn xa la. vó’i khái niê.m Tù’ Bi trong Phâ.t giáo.&lt;br /&gt;Tù’ (mettà) là su’. tra²i lòng mô.t cách thân thiê.n vó’i mo.i chúng sanh (bâ't kê² thân so’, vô phân biê.t), mong cho chúng sanh ðu’.oc yên vui mát me².&lt;br /&gt;Bi (karunà) là lòng trå'c â²n, mong muô'n xoa di.u nhu’ñg nô~i ðau ðó’n buô`n khô² cu²a chúng sanh. Tù’ ðó tìm cách giúp ðo’~ ho. vu’o’.t qua hoàn ca²nh khô'n khó.Tù’ và Bi trong Phâ.t giáo pha²i ðu’o’.c su’. dâñ då'n yê²m tro’. cu²a Trí Tuê.. Nê'u mà yêu thu’o’ng hay Tù’ Bi mà thiê'u Trí Tuê. thì chi² làm ha.i ðô'i tu’o’.ng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Một vị A La Hán tỏ thái độ nghiêm khắc trước sự quyến luyến của tỳ kheo ni mẹ của mình điều này có xác định được rằng trong Phật Pháp không có chổ đứng của tình người ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Tình người không thể thiếu trong Phật Pháp, vì Phật là đấng Giác Ngộ, Chánh Pháp luôn là phương thuốc để trị các chứng bịnh cho mọi con người, vì Ngài là Bậc A La Hán nên biết mình phải dùng phương thuốc gì, để cho mẹ mình uống hầu có thể trị được cơn bịnh quá luyến ái, nên đối với Ngài Kumarakassapa, hay đối với người thực hành Phật Pháp thì tình người luôn có, và được thể hiện để giúp cho mọi người nhận chân được sự thật, và luôn tỏ rõ tình người hướng thượng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Làm sao để tình cảm vượt khỏi biên cương của vị ngã ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Tình cảm vị ngả là do ích kỷ, ích kỷ là do tâm hẹp hòi, tâm hẹp hòi là do không khéo tác ý, không dùng trí để cân nhắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu biết suy nghĩ và nhận thức biết rõ nguyên nhân và hậu quả thì tâm sẽ thoáng hơn, cởi mở khoan dung hơn; một người có tâm cởi mở khoan dung sẽ không có tư tưởng ích kỷ, và do vậy tình cảm của người ấy sẽ vượt khỏi biên cương vị ngã.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mặc khác, người thường an trú tâm với từ bi vô lượng, biến mãn cùng khắp thế gian, mọi loài. Điều đó sẽ làm cho người có tình cảm vượt khỏi biên cương vị ngã.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (Ni Sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có thể chăng có một thứ tình cảm chừng mực mà vẫn mạnh mẽ ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Có thể chăng một thứ tình cảm chừng mực mà vẫn mạnh mẽ ? Tình cảm chừng mực là tình cảm vừa phải, không đi đến mức cực đoan để trở thành mù quáng. Thường tình cảm thế gian khó có thể chừng mực mà vẫn mạnh mẽ. Phải là tình cảm đi kèm với lý trí mới có thể kết hợp hai yếu tố này. Khi từ bi đi kèm với trí tuệ, trí tuệ là yếu tố khiến cho tình cảm chừng mực không vượt quá khuôn khổ, đạo đức, còn từ bi khiến cho tâm thương yêu sâu sắc, coi chúng sanh như chính bản thân mình. Đó là thứ tình cảm khiến cho Bồ tát có thể bố thí tài sản, vợ con, tứ chi, thậm chí đến cả tánh mạng của mình vì lợi ích của chúng sanh mà vẫn không hề dính mắc vào một chúng sanh nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Ni Sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Làm sao để yêu thương cuộc đời mà không hệ lụy bởi trần gian ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Bằng cách quán chiếu ba đặc tánh vô thường, khổ, vô ngã của các pháp, một người có thể vừa yêu thương cuộc đời mà vẫn không hệ luỵ bởi trần gian. Khi cảm thông được nổi khổ của chúng sanh, chúng ta có thể phát khởi tình thương, mong giúp họ vơi bớt những khổ ải chồng chất theo đuổi họ trong kiếp luân hồi. Mặt khác, tuy yêu thương, tuy nhiệt tình làm mọi việc để phụng sự, giáo hóa chúng sanh, vẫn thấy rõ cuộc đời này là vô thường, vô ngã, không có gì là bền vững, không có gì đáng để bám víu. Thái độ của người hiểu Đạo là làm tất cả mà không bám víu, dính mắc gì cả, như câu thơ sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu mai kia còn vào sinh ra tử,&lt;br /&gt;Chốn luân hồi đâu xá kể nguy nan,&lt;br /&gt;Nếu giờ đây vẫy tay chào cuộc lữ,&lt;br /&gt;Cát bụi này xin trả lại trần gian.&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(Sư Viên Minh)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;em&gt;&lt;/em&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115486309321305843?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115486309321305843/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115486309321305843' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486309321305843'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486309321305843'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn-v.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115486282561495594</id><published>2006-08-06T04:11:00.000-07:00</published><updated>2006-08-07T07:33:10.196-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;Đ&lt;/span&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;Ề ÁN MÙA VU LAN&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN &lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Tự Lực Tha Lực&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/?d=X1SLN416"&gt;http://www.megaupload.com/?d=X1SLN416&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;PHẦN IV: 10 Câu hỏi về Tự Lực Tha Lực&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (Sư Trưởng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Người Phật tử có nương tựa vào tha lực không ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Trước nhất chúng ta xác định ý nghĩa của tha lực rồi, sau đó đưa đến kết luận là có nương tựa vào tha lực hay không ? Nếu chúng ta trả lời theo lối thuộc lòng mà thuộc lòng của chúng ta mang tính cách thành kiến, đôi lúc thành kiến cố hữu đó riêng của chúng ta mà nó không trở thành công thức tức là không phải mọi người đều chấp nhận. Vì vậy trước nhất chúng tôi nói về tha lực, nếu tha lực có nghĩa là trong sự tu hành của mình phải cầu đến một vị thượng đế, một vị phạm thiên hay một vị Phật nào như Phật Di Đà chẳng hạn, hay cầu nơi Quang Âm hay Địa Tạng v..v.. đó là ý nghĩa chúng ta nói như thí dụ. Đó là ý nghĩa như là tha lực bởi vì tu hành phải nhờ tha lực, có sự tiếp dẫn kể như là tha lực. Theo kinh điển Tam Tạng Pāli, Đức Phật dạy rằng chính ta là nơi nương tựa của chính ta, hãy tự thấp đuốc mà đi, hãy xây hòn đảo mà nương nhờ, hãy nương tựa vào Chánh Pháp tức là bản thân của mình, hãy thực hành theo Bát Chánh Đạo để được Giác ngộ giải thoát. Không thể cầu khẩn bất cứ vị Phật nào dầu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng hạn, Ngài cũng không thể làm gì hơn nếu chúng ta không chịu thực hành. Cũng như nàng Patācara là một vị Tỳ Khưu Ni nổi tiếng sau này, nhưng lúc ban đầu vừa gặp Đức Phật trong lúc nàng Patācara bị khổ dồn dập, chồng chết, con chết, cha mẹ chết, anh em quyến thuộc chết, nhà cửa cũng bị cháy tiêu tan trở nên điên loạn. Và khi gặp Đức Phật, nàng vừa tỉnh lại thì cầu xin Đức Phật hãy cứu độ thân phận đau khổ của nàng. Đức Phật dạy rằng: “Này Patācara, chớ có nghĩ rằng Như Lai sẽ cứu độ ngươi, mà chính bản thân của ngươi là phải tự cứu lấy mình,” và Đức Phật giảng Pháp cho nghe và sau đó nàng tỉnh ngộ và được xuất gia. Cuối cùng, nàng chứng quả A La Hán, là một vị Tỳ Kheo Ni nổi tiếng thời bấy giờ. Căn cứ điển tích cũng như những câu Phật ngôn, chúng ta thấy chữ tha lực ở đây tức là sự tu hành mà nương nhờ tha lực để tiếp dẫn, độ sanh v..v… thì ý nghĩa này theo Nguyên Thủy Phật giáo tức là lời Đức Phật dạy từ lúc ban đầu không có thông qua hệ phái biến cải, thay đổi v..v… thì không nhằm “tha lực” đó, nhưng nói đến tính tha lực là nhờ sức của một người khác thì chúng ta không thể nào nói là không nhờ tha lực. Như một vị Tỳ kheo dù ở dưới cội cây đi nữa, nhưng mỗi ngày đi khất thực, khi vào trong làng khất thực thì phải có những người thiện nam tín nữ, dân chúng trong làng đặt bát cúng dường. Như vậy đời sống của những vị Tỳ Kheo đó phải hoàn toàn nương nhờ vào tha lực, vì nếu không có sự đặt bát cúng dường thì vị Tỳ Kheo đó không thể sống được. Ngay cả Đức Phật cũng có một lần đi khất thực mà ác ma hiện vào chi phối, không để bát cho Ngài, nhưng chỉ một ngày thôi, còn những vị Tỳ Kheo khác, hai ba ngày không đi khất thực được chẳng hạn, thì sự đói khổ của các vị Tỳ Kheo này rất khó khăn trong vấn đề trong sống đời hành đạo. Nếu tiếp tục vậy mãi ngày này qua ngày khác, từ tháng kia đến tháng nọ đến cuối cùng không tìm được vật thực nào bố thí cúng dường cả, thì như vậy cũng không thể sống được. Dầu cho một vị Tỳ Kheo đó mà không có đi khất thực đi nữa, mà phải nhờ vào nghành nghề nào khác, nghành nghề đó cũng có sự trao đổi qua lại. Trên thế gian này không thể có ai tự túc một mình lo được, nhưng sở dĩ ngưỡi ta dùng danh từ “Tự Túc”, hay “Tự lực cánh sinh” v..v… thì đó là ý nghĩa mình không có đi ăn bám hay xin xỏ ai, hay nhờ cậy ai mà cố gắng mình lo làm có tiền, nhưng có tiền cũng phải trao đổi hàng hóa chứ không phải mình có đủ tất cả đồ dùng. Dầu cho làm ruộng đi nữa cũng không thể ăn gạo ăn lúa, tối thiểu cũng phải có nước mắm, đường, tương, chao v..v… Như vậy không phải chúng ta nói là chỉ sống một mình không nhờ “tha lực” theo nghĩa này. Có những câu Phật ngôn: “Chư Thiên nếu được thương tưởng, chúng sẽ thương tưởng lại”, “Những ai được Chư Thiên thương tưởng sẽ được nhiều sự an vui”, có nhiều trường hợp mà Chư Thiên không có hộ trì cho những người tu tập chánh pháp chẳng hạn, vấn đề Chư Thiên hộ trì như vậy cũng kể về mặt tha lực. Nên nhớ rằng “ Tha lực” đây là giúp đỡ phương tiện vị này có được chổ ở, đi khất thực chẳng hạn như Ngài Sivali, nếu không có người cúng dường thì Chư Thiên cũng cúng dường mà thôi. Không phải nơi Chư Thiên có thể là độ sanh, làm cho chúng ta không hành đạo không tu tập theo Bát Chánh Đạo hay Giới Định Tuệ hay Thiền Chỉ thiền Quán, cầu khẩn Chư Thiên mà tự nhiên đắc được Thiền Chỉ như Sơ Thiền, Nhị thiên..hay thiền quán đắc được Sơ đạo, nhị đạo v..v.. không phải như vậy. Như vậy vấn đề tu tập Thiền Chỉ Thiền Quán đắc thiền hay đắc đạo thì phải tự mình tu tập lấy chứ không phải nương tựa vào ai, đó là nghĩa “Tự Tu” chứ không cầu vào “Tha lực”, nhưng chúng ta phải nói thêm ý nghĩa này rộng rãi, bằng không sẽ bị người ta chất vấn hay hỏi ngược lại: “nếu mình không nhờ vào tha lực hoàn toàn thì cả cơm ăn áo mặc nước uống v..v…mọi tiện nghi, như vậy mình có tạo được không, chắc chắn là phải nhờ tha lực”. Vậy câu hỏi người Phật tử có cần “tha lực” không thì chúng tôi giải thích qua hai phương diện như đã trình bày ý nghĩa trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Năng lực của Tam Bảo trong cách nào gọi là tha lực, trong cách nào gọi là tự lực ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Một người có niềm tin xưng tán ân đức Tam Bảo, tin oai lực của Ðức Phật, tin oai lực kinh paritta, tin oai lực chú nguyện của Tăng Chúng, nhờ niềm tin ấy tạo sự an lành hộ trì cho mình; Cách nầy năng lực của Tam Bảo gọi là tha lực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một người tôn kính Ðức Phật là bậc chơn chánh giác ngộ, tôn kính Giáo Pháp có tính thiết thực hướng thượng, tôn kính Tăng Chúng đệ tử Phật là bậc thiện hạnh, người ấy tinh tấn nổ lực thực hành theo Giáo Pháp của Ðức Thế Tôn khéo thuyết, noi dấu chân Tăng Chúng dẫn dắt, nhờ vậy đạt được sự an lạc hạnh phúc; cách nầy của Tam Bảo gọi là tự lực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Ngay chính Ðức Phật cũng chúc phúc, chú nguyện vậy uy lực đó có phải là tha lực chăng ?&lt;br /&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Sự phúc chúc và chú nguyện của Đức Phật cũng giống như các con thuyền và buồm đã sẵn sàng và hướng về nơi bờ bến an vui mà còn thiếu trận gió thuận theo để đẩy con thuyền đó đến được bến bờ giác ngộ vì với Quyền liệt thắng trí, Y cứ tùy miên trí, Song thông trí, Đại bi định trí, Nhất thiết chủng trí, Vô chướng ngại trí. Với khả năng nầy Đức Phật cũng giống như những nhà bác học đã khám phá ra những nguyên lý, khéo hướng dẫn cho những người tài ba thực hiện và thành tựu, không nên hiểu những lời phúc chúc và chú nguyện như những gì ban ân, bố đức, cứu rỗi, xá tội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (Sư Trưởng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Có gợi ý nào để nói là có trường hợp trông cậy vào tha lực tốt hơn tự lực hoặc ngược lại ?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đáp:&lt;/strong&gt; Nói đến vấn dề “Tha Lực và Tự Lực” khiến cho chúng tôi nhớ đến một giai thoại trong Pháp Bửu Vạn Kinh rất thú vị. Câu chuyện được ghi chép như sau: Sau khi trao truyền y bát cho Huệ Năng thì Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn tự tay chèo thuyền để đưa Ngài Huệ Năng đi lánh nạn. Lúc xuống thuyền sắp sửa để đưa Ngài Huệ Năng đi, đương nhiên tâm trạng này đối với người học trò thì tuổi nào cũng lấy làm ái ngại khi để cho thầy mình chèo thuyền đưa đi, Ngài Huệ Năng mới xin với Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn để cho mình chèo. Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn trả lời là: “Ta độ ngươi thì ta phải đưa ngươi”, với trí tuệ mẫn tiệp lanh lẹ, Ngài Huệ Năng ứng đáp trả lời liền, vừa lý cũng như sự: “Lúc mê thì Sư đồ, ngộ rồi thì tự độ”. Như vậy, Ngài Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn phải đưa chèo cho Ngài Huệ Năng. Câu chuyện này rất thú vị và cũng nói lên ý nghĩa có cả “Tha lực và Tự lực”, nhưng tha lực ở đây tức là nương nhờ vào sự dạy dỗ của một ông thầy chứ không có nghĩa như cầu khẩn đến một vị thiêng liêng, tạo hóa, thần linh, thượng đế nào cả như ý nghĩa người ta cầu nguyện vào mà người ta gọi là “tha lực”. Ở đây chúng ta không thấy ý nghĩa cầu nguyện đến một đấng nào để cứu rỗi, nhưng nói hoàn toàn tự lực cũng không đúng bởi vì chúng ta được biết có một câu Phật ngôn như Đức Phật đã nói: “toàn bộ phạm hạnh này là thiện hữu, thiện bằng lữ thiện giao du”, thật vậy những gì Đức Phật đã giảng dạy cho chúng đệ tử thật hành theo, chúng ta biết chỉ có Đấng Toàn Giác, Đấng Độc Giác thì tự mình ngộ lấy không thầy chỉ dạy, còn Bậc Thinh Văn thì tất cả dầu Chí Thượng Thinh Văn Đệ Nhất Trí Tuệ như Ngài Xá Lợi Phất hay là Đệ nhất Thần Thông như Ngài Mục Kiền Liên thì cũng phải nghe qua một bài kệ do Ngài Asaji nói lên mà Ngài Xá Lợi Phất chứng được quả Tu Đà Hườn, thuật lại Ngài Mục Kiền Liên cũng chứng quả Tu Đà Hườn. Sau khi chứng ngộ rồi thì vị nào cũng nói: “Từ vô lượng kiếp ta tìm hoài không gặp thì chỉ một câu kệ mà cả hai vị đều được chứng ngộ.” Như vậy đó cũng là nhờ vào tha lực, nhưng tha lực đây chỉ có nghĩa là như một ông thầy, một vị giáo sư giảng dạy mà thôi, đừng hiểu nghĩa tha lực như là cách nương tựa vào một vị thần linh, thượng đế để bang phước tha tội hay cứu rỗi. Vấn đề có tự lực nhờ thầy dạy dỗ mà cũng là tự lực phải tu tập chứ không thể nương tựa ai. Thường chúng ta thấy câu Phật ngôn mà Đức Phật thỉnh thỏang nói đến: “Này các Tỳ kheo, những gì bậc Đạo Sư vì lòng thương tưởng cần phải làm cho Đệ tử, Như Lai đã làm cho các ngươi” tức là sự giảng dạy tận tình, và đây: “Này các Tỳ Kheo, đây là gốc cây, đây là ngôi nhà trống, đây là khu rừng, hãy tu thiền chớ có để hối tiếc về sau”. Đoạn đầu rõ ràng là những gì Bậc Đạo Sư cần phải làm tức là sự giảng dạy tận tâm rõ ràng, không dấu, như Ngài tuyên bố cho Ananda: “Còn chờ đợi Như Lai gì nữa, Như Lai không phải là vị Đạo Sư có bàn tay nắm giữ, những gì cần giảng dạy, Như Lai đã giảng dạy” Ngài tuyên bố giáo pháp của Ngài là giáo pháp công truyền chứ không phải bí truyền v..v… Rõ ràng đọan này cho chúng ta thấy, nhờ tha lực là các bậc Thinh Văn Đệ tử Phật phải được nghe được học từ nơi đạo sư, dầu Bậc Đạo Sư đó là Đức Phật hay là những vị Thinh Văn, những vị trưởng lão đã thọ trì được truyền lại như một vị giáo sư dạy lại một người học trò. Nhưng phải tự lực tức là giai đọan sau, nếu là tha lực không thì Đức Phật đã không nói giai đoạn sau: “Hãy tu thiền, chớ có để hối tiếc về sau”. Sau khi giảng dạy Giáo pháp rồi thì Ngài chỉ dẫn kiếm chổ thích hợp để tu tâp, đây là gốc cây, đây là ngôi nhà trống, đây là khu rừng, hãy tu thiền chớ có để hối tiếc về sau …” Rõ ràng phần sau là phải tự lực mà thôi chứ không thể ngồi đó mà cầu nguyện ai ban phước lành cho mình đắc được thiền định hay đạo quả được. Trong câu đoạn đầu rõ ràng chúng đệ tử phải nương tựa vào một bậc Đạo Sư, thì chúng ta được hiểu qua ý nghĩa này. Và một câu Phật ngôn này như là sự gợi ý rằng những đệ tử Đức Phật thì phải nương tựa vào Giáo Pháp mà trực tiếp hay giáng tiếp thì đó là lời dạy của Bậc Đạo Sư.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính những Giáo Pháp đó trong đời sống Phạm Hạnh này là được sự giảng dạy, ghi chép rõ ràng trong Tam Tạng Kinh Điển mà chúng ta thường nghiền ngẫm tu học nghiên cứu, thì đó là thiện hữu, thiện bằng lữ thiện giao du. Cũng như có câu là: “Vị Tỳ Kheo mất cứu pháp, tâm tư hằng niệm pháp sẽ không rời Chánh pháp” Nếu là nương theo Phật ngôn, nương theo Giáo lý của Đức Phật dạy tu tập, đó là thiện hữu, thiện bằng lữ thiện giao du. Sau khi hiểu biết rồi phải tự tu tập lấy chứ không phải cầu nguyện Đức Phật hay bất cứ vị nào cứu rỗi cho mình. Đối với Phật giáo Nguyên Thủy trong Tam Tạng Pāli hay chính xác hơn là chính nơi Đức Phật Thích Ca thì mọi hình thức cầu nguyện đều là Giới Cấm Thủ tức là cầu nguyện ông này bà nọ cứu rỗi v..v …hay cúng kiến cầu nguyện đều là Giới Cấm Thủ. Chỉ cần tha lực theo nghĩa nhờ thầy chỉ dạy rồi sau đó tự mình phải tu tập như là những vị Tỳ Kheo thường nói với Đức Phật, những câu nói này rất có ý nghĩa và đôi lúc chúng tôi đọc đến đọan này có cảm tưởng các vị Tỳ Kheo đó có trạng thái nhỏng nhẻo với Đức Phật bằng cách là: “Bạch Đức Thế Tôn, Thế Tôn hãy giảng dạy cho con như là đề mục thiền quán hay là một câu trả lời nào đó, sau khi được Đức Thế Tôn giảng dạy, con sẽ sống đời sống độc cư”. Rõ ràng đoạn trước là nhờ vị Thầy giảng dạy và đoạn sau thì sống độc cư để thực hành theo lời dạy đó. Nhờ thầy giảng dạy là “Tha Lực”, nhưng khi học hiểu biết rồi thì phải tự tu tập lấy, chứ không thể nhờ người khác làm cho mình đắc thiền đắc đạo được. Và những câu Phật ngôn nói trên như là một sự gợi ý, nếu muốn hiểu như có sự tha lực cũng được và không ngoài ý nghĩa là học hỏi và cũng có thể như là gợi ý là “Tự Lực” sau khi học hỏi phải tự tu tập lấy chứ không thể nghe học mà không thực hành thì chẳng khác nào kẻ mục đồng chỉ đếm bò chứ không hưởng được sửa bò. Ý nghĩa này được trong kinh điển ghi chép, chúng tôi trình bày giải thích theo câu hỏi số 4 vừa nêu trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hỏi: Kinh điển Pāli có đề cập đến 3 khuynh hýớng bồ tát: Nặng về đức tin, nặng về tinh tấn, nặng về trí tuệ. Cũng nói thêm rằng vị nghiêng về trí tuệ tu nhanh nhất. Vậy phải chăng tự lực dẫn đến cứu cánh nhanh nhất ?&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Ba khuynh hướng tinh tấn, đức tin và trí tuệ là ba tinh cách "đặt nặng" chí không có nghĩa là chư vị bồ tát có một điều mà không có hai điều kia. Tất cả đều tự nỗ lực. Những tác động bên ngoài chỉ là trợ lực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Việc tụng kinh, lễ bái, cúng dường của người Phật tử phải chăng là mong cầu tha lực ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Có hai trường hợp:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người phật tử thực hiện việc tụng kinh, lễ bái, cúng dường với ước mong nhờ uy lực Tam Bảo gia hộ cho mình được thoát tai ương. Nếu là vậy thì việc tụng kinh, lễ bái, cúng dường của người nầy là mong cầu tha lực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi người phật tử thực hiện việc tụng kinh, lễ bái, cúng dường nhằm mục đích làm tăng trưởng thiện tâm, vun bồi niềm tin, hướng cảnh tốt cho tâm thiện sanh khởi và an trú; Thì đây, việc làm nầy là không phải cầu tha lực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Kinh điển Pāli nói gì về "Uy lực thập phương Tăng" ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Uy lực thập phương Tăng vì các Ngài đã tu hành chín chắn y theo, chánh pháp. Thánh Pháp.các ngài tu hành để Giác Ngộ Niết Bàn,tu theo phép Giới Ðịnh Tuệ.,các ngài đang thành,đã thành và sẽ thành, 8 bậc thánh và các ngài tu hành để kiện toàn 9 Ân Đức. Tức là: Thiện hạnh (supat.ipanno), trực hạnh (ujupatipanno), chánh hạnh (ñāyapat.ipanno), nghiêm hạnh (sāmīcipat.ipanno), đáng cung phụng (āhuneyyo), đáng nghênh tiếp (pāhuneyyo), đáng cúng dường (dakkhin.eyyo), đáng lễ bái (añjalikaraneyyo), phước điền vô thượng của đời (anuttaram. puññakkhettam. lokassa).uy lực thập phương Tăng trấn áp các tà thuyết,và dứt trừ tất cả tội lỗi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (Ni Sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu con đường giải thoát là hành trình mọi người phải tự đi không ai làm giùm được cho ai thì lòng đại bi có giá trị gì ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Con đường giải thoát là hành trình mà mỗi người phải tự đi. Ngay cả Đức Phật cũng chỉ là một bậc Đạo sư chỉ đường mà thôi. Nói vậy không có nghĩa là không ai có thể giúp đỡ ai trên cuộc đời này. Trong quá trình luân hồi dài đăng đẳng, chúng sanh có vô số nỗi thống khổ. Tâm đại bi là tâm thương xót mong mỏi người khác thoát khỏi đau khổ. Tâm đại bi muốn làm vơi bớt những nỗi thống khổ của chúng sanh. Tuy chúng ta không thể tu tập thay cho người khác, nhưng chúng ta có thể giúp cho họ miếng cơm khi đói, tấm áo khi lạnh, thuốc thang khi bệnh tật, lời an ủi động viên khi sầu khổ. Những chia sẻ đó giúp cho người khác vơi bớt những khổ đau trước mắt, rồi sau đó mới có thể hướng dẫn cho họ nhận ra nguyên nhân những đau khổ của mình, để rồi họ tự tu tập để loại trừ những nguyên nhân dẫn đến đau khổ để đi đến an lạc giải thoát của Niết bàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (Ni Sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Làm thế nào có thể nương vào tha lực mà không mất đi khả năng tự lực ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Nương vào tha lực là nhờ vào sự giúp đỡ của người khác để có thế tiến bước vững vàng trên con đường tu tập. Trong giai đoạn đầu của sự tu học, người Phật tử rất cần nương tựa vào Tam Bảo. Nương vào hình ảnh cao quý của Đức Phật để giữ vững niềm tin, nương vào giáo pháp để không sai lạc vào tà kiến, nương vào chư Tăng để được sự hướng dẫn cụ thể. Sự nương tựa này không phải là hoàn toàn phó mặc số phận của mình cho tha lực, mà chỉ để có thêm sức mạnh để tự mình đi trên con đường giác ngộ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Trong kinh có Phật ngôn: "Thân cận bạn lành là toàn phần của phạm hạnh" phải chăng điều này nói rằng trong cuộc tu không thể không cần tha lực ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Gọi là toàn phần vì 2 lý do: thứ nhất một người quyết tâm tu tập thì không có lý do gì tiếp tục thân cận với "ác hữu". Thứ hai, bạn lành đúng nghĩa bạn lành có thể trợ duyên trong tất cả giai đoạn của hành trình giải thoát giác ngộ. Cả hai điều nầy không mang hàm ý nào phủ nhận giá trị của tự nỗ lực. &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115486282561495594?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115486282561495594/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115486282561495594' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486282561495594'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486282561495594'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-t-lc.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115486256391075394</id><published>2006-08-06T04:07:00.000-07:00</published><updated>2006-08-07T03:10:16.180-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;&lt;strong&gt;Cứu rỗi&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/?d=Q02H6AQ9"&gt;http://www.megaupload.com/?d=Q02H6AQ9&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;PHẦN III : 10 Câu hỏi về Cứu rỗi&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (Sư Trưởng trả lời tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phải chăng tất cả người sanh vào khổ cảnh như địa ngục đều có thể được giải thoát bằng phép hồi hướng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Nói về cách hồi hướng trong Phật giáo, dù đó là những buổi lễ bố thí, cúng dường, làm phước trong những ngày thường trong năm hay là nhân dịp trong mùa VuLan chẳng hạn tùy theo phong tục tập quán địa phương. Bất cứ hình thức nào làm phước hồi hướng không phải hoàn toàn nhất định hễ là hồi hướng những người thân trong bốn đường ác đạo có thể siêu sanh nhàn cảnh được. Bằng chứng chúng ta nhớ đến một câu chuyện tiền thân những người quyến thuộc mà sanh làm ngạ quỹ là tiền thân của quyến thuộc vua Ba Tư Nặc (Vua Pasenadi) mà đã từng làm ngạ quỹ và đã gặp nhiều vị Phật ra đời, khi đến được hỏi thăm thì các vị Chánh Đảng Chánh Giác cho biết còn phải trải qua một thời gian nữa. Không phải là Chư Phật trong quá khứ mà những ngạ quỹ hay là tiền thân của bà con Vua Ba Tư Nặc là không có biết pháp hồi hướng hay là chỉ cách, nhưng bởi vì nghiệp của chúng sanh quá nặng chưa đến lúc có thể hồi hướng phước được. Cũng giống như những người bị tù, hai chục năm hay ba chục năm, bây giờ chưa phải đến lúc lãnh ra hay tự do được, phải còn thời hạn. Nếu trường hợp có người kêu mãn hạn, hết thời kỳ đó, nhưng không có người đỡ đầu thì người đó có thể tiếp tục làm những chuyện quấy chẵng hạn. Đối với chúng sanh đọa vào bốn đường khổ nếu không có người tiếp độ thì họ có thể tái diễn trong cảnh khổ tương tợ như vậy. Nhưng nhờ có pháp hồi hướng đến cho những người thân nhân mà khi nghiệp nhẹ hay mỏng, sắp hết rồi, đây là cơ hội có thể hồi hướng được, đó là đại khái là như vậy. Trong kinh còn phân rõ những loại nào được hưởng pháp hồi hướng, những loại nào không được, nhưng mà nói như vậy, chúng ta có thể đặt lên câu hỏi nếu không chắc chắn hễ là hồi hướng là được phước tại sao chúng ta phải làm? Thường Việt Nam chúng ta có câu: “còn nước còn tát”, mỗi khi có người thân hay bản thân của chúng ta bệnh đều đi bệnh viện hay đi bác sĩ để khám bệnh và trị bệnh. Không phải tất cả trường hợp đi bệnh viện hay đi bác sĩ đều là hết bệnh hay không bị chết, nếu quả như vậy thì trên đời này không có trường hợp những người tử vong vì hễ đến bệnh viện thì sẽ hết bệnh, tìm được con đường sống, và hễ đi bác sĩ cũng được sống và hết bệnh. Cũng có thể trường hợp đi bác sĩ hay đi bệnh viện là cũng vượt qua cơn bệnh tiếp tục sống như thế nữa, nhưng mà đến một lúc bệnh nặng không thể vượt qua thì có thể chết trong bệnh viện hay chết trên tay bác sĩ cũng có. Nói như vậy không nghĩa là không chắc hễ đi bác sĩ là hết bệnh thì chúng ta không đi, nhưng mà chắc chắn hễ đi bệnh viện hay đi bác sĩ thì hoàn toàn hết bệnh quả thật cũng không đúng. Đây là một thí dụ giống như làm phước hồi hướng cho thân bằng quyến thuộc của chúng ta đã quá vãng có thể phước sanh đến cho những vị đó, như là những ngạ quỹ là tiền thân quyến thuộc của Vua Ba Tư Nặc khi nghiệp đã nhẹ rồi, nếu Vua Ba Tư Nặc không làm phước hồi hướng thì các ngạ quỹ này có thể vẫn tiếp tục trong cảnh giới khổ đau, bất hạnh đó, nhưng được hồi hướng thì ngay đúng lúc đó có thể được siêu sanh nhàn cảnh cõi trời chẳng hạn. Như vậy, phương pháp hồi hướng phần phước, sang sẽ công đức mình đã làm đến cho thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, kiếp hiện tại cũng như vô lượng kiếp về trước nói chung thì chúng ta chia phước đó hay là hồi hướng sang sẽ công đức đó có thể được với một số chúng sanh với nghiệp ác đã nhẹ. Trong Trung Bộ Kinh cũng đã nói bài kinh Thiên Sứ, đây cũng giải thích trường hợp nếu như một người sanh vào trong cảnh khổ như địa ngục chẳng hạn, nếu khi gặp Diêm Vương thì hỏi có thấy đệ nhất Thiên Sứ, đệ nhị Thiên Sứ v..v… tức là hỏi lại người đó có thấy sanh, thấy già, thấy bệnh, thấy chết, thấy những người tù tội hay không, nếu người đó đáp là có nhưng mà không thấy sanh, già, đau, chết, tù tội như vậy nhưng không thức tỉnh lo tu thì gợi ý như vậy. Nếu người này chợt nhớ lại mình có làm một thiện sự nào đó như bố thí, trì giới, tu thiền chẵng hạn thì nhờ nhớ lại thiện nghiệp của mình thì có thể sanh lên, vượt khỏi cảnh khổ đau, nhưng khi nhớ lại trong cả suốt kiếp nhân loại mà không hề làm được thiện lành, hoàn toàn làm những chuyện ác, như vậy người ấy sẽ tiếp tục trong cảnh giới khổ đau. Cũng vậy, mỗi lần hồi hướng, thường hồi hướng Chư Thiên hay Diêm Vương v..v…, nếu người đã quá vãng sanh cảnh giới nào không ai biết xin các vị mách bảo dùm v..v… thì cũng căn cứ theo ý nghĩa tương tợ như vậy. Để cho Chư Thiên, phi nhân, Diêm Vương chẳng hạn nhắc nhở người đã quá vãng trong cảnh giới khổ đau được nghe được biết được hay để hoan hỷ với công đức đó mà vượt lên khỏi đọa xứ khổ cảnh. Nếu dầu cho được biết mà nghiệp quá nặng cũng không thể vượt qua. Đây là câu hỏi vừa nêu trên. Đọa xứ thì nói chung, nhưng cảnh địa ngục thì khó vượt qua, ngạ quỹ thì có thể hồi hướng được một phần loại ngạ quỹ nghiệp hơi nhẹ, nếu sanh vào A Tu La chúng tôi chưa tìm thấy một câu chuyện nào trong kinh nói chúng sanh đang trong cảnh giới A Tu La mà nhờ được phước được vượt lên, không biết có hay không chúng tôi nhất thời không nhớ đến. Còn bàng sanh thì chắc điều này không được rồi, nếu sanh vào con chó con heo con gà con vịt v..v… dầu cho có hồi hướng đi nữa thì con vật đó không hay biết. Nếu sanh làm người thì cũng tương tợ như vậy, còn sanh Chư Thiên thì điều này có thể Chư Thiên được phước thì phước càng tăng thêm nữa thì có lẽ là một điều rất tốt. Nếu sanh vào địa ngục mà địa ngục nặng như A Tỳ v..v.. thì dầu hồi hướng cũng không được, nhưng dầu được dầu không thì bổn phận làm con hay cháu đối với cha mẹ ông bà hay thân thương đã quá vãng thì chúng ta cứ làm, cũng như là bệnh thì cứ đi bác sĩ để khám bệnh hay trị bệnh v..v… Đó là ý nghĩa câu thứ nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu chúng sanh trong khổ cảnh không nhận được phước hồi hướng thì làm thế nào để thoát khổ cảnh ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Ngoại trừ chúng sanh khổ cảnh ngạ quỉ paraduttūpajīvī là nhận được phước hồi hướng để thoát khổ cảnh. Các loài chúng sanh khổ cảnh khác như địa ngục, a tu la và bàng sanh thì không nhận được phước hồi hướng, nhưng chúng vẫn có nhân duyên để thoát khỏi khổ cảnh.&lt;br /&gt;Loài địa ngục nhờ sự gợi ý của diêm vương (yāmarāja) mà nhớ lại thiện sự (nếu họ từng có làm thiện), nhờ vậy mà thoát khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài a tu la thì nhờ nghe kinh pháp mà tự cảnh tĩnh (nếu họ chỉ có oan trái nhẹ) nhờ vậy mà thoát khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng loài bàng sanh đa dạng, có những loại biết tạo tâm thiện, tạo uy lực hạnh, nhờ vậy mà thoát khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu chúng sanh khổ cảnh không nhờ nguyên nhân nầy, thì trải qua thời gian rất lâu, khi ác nghiệp giảm thiểu sức mạnh, quả dư sót dẫn dắt tái sanh cảnh giới khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Một người đã làm ác nghiệp làm thế nào để chuộc tội và sửa đổi nghiệp ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Một người làm ác nghiệp là do tà kiến và si mê, có những chấp thủ sai lầm, nên đã tạo những ác nghiệp và tội lỗi, do gần gũi, thân cận những người bạn ác và theo những Tôn giáo tà thuyết, chấp lấy những quan kiến sai lầm, nhứt là thường kiến, đoạn kiến và những quan kiến khác. Nên sửa đổi, phải từ bỏ bạn ác và tránh xa các tôn giáo tà thuyết ấy, thân cận bạn lành và gần gũi các bậc trí tuệ, tu hành theo Bát Chánh Đạo như câu Pháp Cú 173 đã dạy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai dùng các hạnh lành&lt;br /&gt;Làm xóa mờ nghiệp ác&lt;br /&gt;Chói sáng rực đời này&lt;br /&gt;Như trăng thoát mây che.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (Sư Trưởng trả lời tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Người Phật tử có phép sám hối nhưng tại sao trong A Tỳ Ðàm dạy trạng thái "hối quá" là một tâm sở phiền não ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Trong A Tỳ Đàm có câu “ hối quá”, thật vậy, sân, tật, lận, hối là một trạng thái “hối”. Hối này được giải thích là hối tiếc việc thiện đã bỏ qua và hối hận việc ác đã làm, nó thuộc về tâm sân, và tâm sân dĩ nhiên là bất thiện, kể cả trường hợp thọ ưu liên hệ đến ly dục, thọ ưu liên hệ đến xuất gia không liên hệ đến cư sĩ tại gia. Trong lúc các vị có sự lo lắng ưu tư không biết ngày nào chúng ta được an trú trong trú xứ bậc thánh, tuy rằng trạng thái ưu tư này thuộc về thọ ưu hẵn là tâm sân mà sân là bất thiện, nhưng chính vì trạng thái này sẽ là động cơ thúc đẩy cho đương sự, hành giả cố gắng tu tập để được giác ngộ giải thoát. Cũng như khi biết rằng mình đã mang trọng bệnh, chính vì ý thức được đang mang trọng bệnh nên càng kiên cử, càng gìn giữ sức khỏe, càng lo lắng uống thuốc trị bệnh, đó là một điều biết ra mình có bệnh, lo lắng ấy thì có lợi cho trị bệnh cũng như dưỡng sinh. Nếu như không biết như vây mà nghĩ rằng cùi không sợ lỡ thì đưa đến tai hại hơn. Đây cho chúng ta thấy thọ ưu không liên hệ đến xuất gia, không liên hệ đến tại gia hay thọ ưu liên hệ đến ly dục, tức là nhờ lo lắng đó cũng như Vua A Dục trả lời cho người em là: “các vị Sa Môn Thích tử, vì quán đến sanh tử luân hồi nên các vị ấy càng tinh tấn không dám dễ duôi, trong khi Hoàng đệ chỉ thấy cái chết tức thời mà còn lo lắng ưu tư như vậy”, thì rõ ràng đây là trường hợp thọ ưu không liên hệ đến vật chất mà liên hệ đến sự xuất ly, mặc dầu nói là bất thiện nhưng cũng là động cơ để tiến hóa. Ngược lại, có người rầu chỉ rầu, lo chỉ lo mà không tìm cách giải thoát, thí dụ như làm việc tội lỗi mà người này vô tàm vô quý, người này không ghê sợ và không hô thẹn tội lỗi, đừng nói chi là hối hận hay hối tiếc, điều này hẵn không có cơ hội để thoát ly. Nếu một người biết hối tiếc một việc thiện đã bỏ qua, hối hận việc ác đã làm, đây rõ ràng trạng thái thọ ưu tâm sân, nhưng chính vì người này biết hối tiếc việc thiện bỏ qua, về sau sẽ có cơ hội làm một việc thiện tốt hơn.&lt;br /&gt;Tôi có hai lần, một lần đi Campuchia, khi chiếc xe đi ngang thì thấy có những người đặt những cái bàn và đứng ra giữa lộ đón xe, thì người tài xế chạy gần tới đó rồi nhấn ga cho vụt qua làm cho mấy người đó chạy phóng vô lề. Khi tôi hỏi ra thì mấy người trên xe cho biết những người này là thiện nam tín nữ, họ ra đó để xin tiền đi cất chùa. Trong suốt thời gian đó tôi cảm thấy áy ngại, khó chịu vì những người thiện nam tín nữ đón trên đường để xin tiền sữa chùa cho Chư Tăng, mà nhìn thấy trong xe có những Sư mà để cho tài xế nhấn ga vọt mạnh, suýt cán người ta như vậy thì thấy rất là khó chịu, nhưng anh tài xế này không phải là Phật tử, anh chỉ là người tài xế của xe thuê mà đi, anh không ý thức gì cả và anh đã làm như vậy. Trong thời gian ba, bốn ngày ở Campuchia, lúc trên đường về, tôi mới dặn anh tài xế (trong những thời gian sinh hoạt từ từ để anh tài xế mới quen với các Sư và các Phật tử trong đoàn), là chuyến về anh phải ngừng lại để làm phước chứ không nên chạy ngang thì anh tài xế nghe lời. Đến lúc xe chạy về gần tới đó, xe từ từ thắng lại và những người họ ra, và tôi mới nói với các Phật tử trong xe chúng ta sắp sửa về Việt Nam, số tiền ở Campuchia không xài nữa, ai có tiền còn lại xin làm phước, lúc đó tôi làm gương móc hết trong vèm, còn bao nhiêu để ra, và các vị Sư và Phật tử cùng đi chung đoàn cũng bắt chước theo tôi có bao nhiêu tiền Campuchia cũng bỏ vô hùn phước. Khi mà gởi xuống, những người Phật tử thiện nam tín nữ rất hoan hỷ, nói “Sadhu, Sadhu”. Bắt đầu từ lúc đó tôi mới nhẹ đi trong người, và mỗi lần nhớ lại tôi cảm thấy rất là dễ chịu. Lần đi Miến Điện cũng tương tợ như vậy, nhưng lần này tài xế không chạy suýt cán người như vậy, lúc về tôi cũng dặn ghé lại rồi tôi làm phước cúng tiền để xây dựng chùa. Những chuyến như vậy, nếu chúng tôi không có trở về làm được, mỗi lần nhớ tới thì trong tâm sẽ có sự hối tiếc việc thiện mình đã bỏ qua, nhưng mà may mắn làm được. Như vậy, cái hối tiếc ở đây có lợi vì nhớ hối tiếc việc thiện mình đã bỏ qua để rồi làm lại tức là có dịp sẽ làm lại những phước thiện đó, đó là điều tốt. Hối hận việc ác đã làm như những lần mình đã làm dù vô tình hay cố ý, mà mỗi lần nhớ lại thì thấy ăn năn khó chịu, để chi ? để chừa cải gọi là “sám tiền vi, hối hậu hóa” đừng làm như vậy, nhưng cũng nên ý thức được rằng cái gì quá khứ không nên truy tầm, nhất là giờ phút lâm chung. Nếu như những tư tưởng này chặn lại thì nhớ câu chuyện vị Tỳ Kheo làm đứt cỏ mà chưa kịp sám hối, tâm ăn năn nóng nảy đã dẫn vị này vào trong bàng sanh, đọa sứ. Như vậy, chúng ta ý thức được để nâng tâm lên, hướng đến việc thiện như nào mình đã làm như là bố thí, trì giới, còn việc kia đã sám hối rồi để tẩy xóa mặc cảm tội lỗi, hay chưa kịp sám hối thì nghĩ rằng mình không có lý do gì để nhớ những điều ác quấy hay tội lỗi này. Cũng như một tên đao phủ mà Ngài Xá Lợi Phất khéo hướng dẫn bằng cách hỏi việc làm đó do ông muốn làm hay do nhà vua, thì người đó là kẻ ngu si nên trả lời là làm theo lệnh nhà Vua và nghĩ rằng chắc không có tội, tuy rằng hiểu sai lý nghiệp báo, nhưng mà nhờ như vậy an tâm để không có hối hận này nên nghe kinh và nhờ nghe kinh nên sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiên giới.&lt;br /&gt;Giữa những câu chuyện này là bài học cho chúng ta, hối tiếc việc thiện để tương lai mình không bỏ qua việc thiện và hối hận việc ác để tương lai không làm việc ác chứ không phải chỉ bứt rứt trong tâm thì điều đó không nên. Trạng thái hối tiếc hối hận thì hối là thọ ưu vì làm cho tâm nóng nảy nên trong A Tỳ Đàm để vào sân phần tức là sân, tật, lận, hối là cách để chúng ta hóa giải trong tâm thì phải xử sự như cách vừa nói trên. Và những gì tôi trình bày căn cứ theo ý nghĩa, điển tích đã có trong kinh diển để trả lời câu hỏi số 4 vừa nêu trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Sám hối tội lỗi một cách hợp đạo là sám hối thế nào ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Trong kinh giáo giới Ra Hầu La (Rāhulovādasutta) Đức Phật dạy về cách phản tỉnh thân, khẩu, ý và khi thấy biết có lỗi lầm về thân hành hoặc khẩu hành thì nên phát lộ (bày tỏ) với thầy hay bạn có trí để sám hối chừa cải; nếu có lỗi lầm về ý hành thì chỉ tự hổ thẹn và quyết định chừa bỏ trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cách sám hối hợp đạo có 2 cách là phát lộ sám hối và tâm nguyện sám hối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong luật của bậc xuất gia thì Đức Phật đã chế định nhiều hình thức phát lộ sám hối tùy theo tội nặng nhẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người cư sĩ cũng có cách sám hối hợp lẽ đạo bằng cách bày tỏ lỗi lầm và hứa nguyện chừa cải.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những tội nặng nề như đại nghịch tội, như tội ba la di của tỳ kheo không thể sám hối cho thanh tịnh được, nhưng cũng nên có lòng tàm quý hối quá để chận đứng tâm ác không cho tiếp tục tăng trưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Chúng sanh có thể nào trả hết được bất thiện nghiệp của mình đã tạo không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Với vô số bất thiện nghiệp đã tạo trong vô biên kiếp sống, chúng sanh không thể nào trả hết được. Nếu một chúng sanh phải trả hết tất cả những nghiệp bất thiện mình đã tạo thì không thể có cơ hội nào chấm dứt đau khổ. Tuy nhiên, khi một chúng sanh chứng đắc Đạo quả A-la-hán thì không còn tạo thêm nghiệp mới. Và khi bậc A-la-hán nhập Vô dư Niết bàn thì nghiệp không còn cơ hội trổ quả nữa. Tuy nói rằng nghiệp theo ta như bóng theo hình, nhưng khi người đã nhập Niết bàn rồi, thì không còn hình nữa nên bóng cũng không còn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Ðền tội" có đền được tội không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Theo tinh thần Đức Phật dạy về Ác nghiệp, theo thông thường mọi người thường gọi là Tội. Ác nghiệp nầy khi có cơ hội thi sẽ trổ sanh theo thời gian, và còn tùy theo là thường nghiệp, hay trọng nghiệp nữa, những ác nghiệp sẽ được đoạn trừ khi Đạo Quả sanh lên, nếu chưa đắc được Đạo Quả, thì đối với trọng nghiệp vẫn có cơ hội để trổ sanh, mà các bậc Thánh lậu tận vẫn phải nhận lấy Tội, Nghiệp ấy. Nếu hiểu theo nghĩa đền tội, theo thay thế hay là trừ qua cấn lại thì hoàn toàn không đúng. Theo lời Phật dạy và cũng không thuận theo chơn lý, vì ác sẽ trổ ác quả, còn thiện thì sẽ trổ thiện quả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Tạo thiện nghiệp có chuyển được dòng nghiệp lực chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Dòng nghiệp lực là một kết cấu có quá khứ, hiện tại hỗn hợp. Tiền nghiệp chi phối hiện tại mà hiện nghiệp cũng chi phối hiện tại. Do vậy không thể nói tiền nghiệp quyết định tất cả mà cũng không thể nói hiện nghiệp có thể thay đổi tất cả. Sự tu tập giải thoát vô dư y niết bàn là cứu cánh vô hiệu tất cả nghiệp quá khứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu quá khứ chúng ta đã tạo nhiều nghiệp thiện lẫn nghiệp bất thiện thì trong hiện tại điều kiện nào khiến cho thiện nghiệp trổ quả hay ngược lại ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Nghiệp quá khứ mang "khả tính" trổ quả trong đời hiện tại. Ngài Narada giải thích điều nầy y cứ theo kinh điển như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong sự báo ứng của nghiệp ta nên biết rằng có những năng lực hỗ trợ, nâng đỡ, tạo điều kiện, trợ duyên cho quả sớm trổ sanh, và ngược lại cũng có những năng lực kiềm hãm, ngăn chặn, không cho quả trổ sanh, hay nghịch duyên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự sanh trưởng (gati), thời gian hay hoàn cảnh (kala), nhân cách hay tướng mạo (upadhi), và sự nỗ lực cố gắng (payoga) là những năng lực trợ duyên hay nghịch duyên, hỗ trợ hay ngăn cản quả trổ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thí dụ như người kia sanh trưởng trong một gia đình quý phái, giàu sang, hay trong hoàn cảnh an lành, sự tái sanh tốt ấy đôi khi là một năng lực ngăn chặn không cho quả dữ trổ sanh.&lt;br /&gt;Trái lại, người nọ sanh trưởng trong gia đình nghèo khó khốn cùng, hay trong cảnh khổ, sự tái sanh bất hạnh của người nầy tạo điều kiện thuận tiện cho quả dữ trổ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Danh từ Phật Giáo gọi những năng lực ấy là "tái sanh thuận lợi" (gati sampatti) và "tái sanh bất thuận lợi" (gati vipatti).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người kia, dầu không phải là hạng thông minh, mà nhờ có Nghiệp tốt, sanh trưởng trong hoàng tộc thì cũng được thiên hạ kính nể kiêng vì. Nếu cũng kém thông minh như người ấy mà sanh trong gia đình túng thiếu bần hàn thì ắt không được kính trọng như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu nhờ Nghiệp tốt mà người kia được tái sanh thuận lợi, nhưng bất hạnh phải tật nguyền hay có tướng mạo dung nhan xấu xí thì cũng không hoàn toàn trọn hưởng phước lành của mình. Một vị hoàng tử đáng lẽ phải nối ngôi cha để trị vì thiên hạ, nhưng nếu vị ấy tật nguyền cũng có thể đó là một trở ngại, không được lên ngôi báu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trái lại, diện mạo phương phi là yếu tố giúp thành công. Một đứa trẻ tuy nghèo nhưng mặt mày thông minh sáng sủa có thể làm cho người khác chú ý đến và gieo ít nhiều thiện cảm đến người khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian hay cơ hội thuận lợi và bất thuận lợi (kalasampatti và kalavipatti) là hai yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự báo ứng của Nghiệp. Thí trong một thiên tai, tất cả đều phải cùng chung chịu một số phận. Đó là điều kiện bất thuận lợi, trợ duyên cho nghiệp xấu trổ sanh. Cũng có những điều kiện thuận lợi làm suy giảm năng lực hoặc ngăn chặn không cho Nghiệp xấu trổ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các năng lực trợ duyên và nghịch duyên, hạnh tinh tấn hay sự nỗ lực cố gắng (payoga) là quan trọng hơn tất cả. Trong sự báo ứng xủa Nghiệp, tình trạng cố gắng hay thiếu cố gắng giữ một vai trò chánh yếu. Do cố gắng trong hiện tại, ta có thể chuyển Nghiệp, tạo Nghiệp mới, hoàn cảnh mới, môi trường mới, cả một thế giới mới. (Đức Phật và Phật Pháp - bản dịch của Phạm Kim Khánh)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phật Pháp dạy rằng tâm thái trong giây phút lâm chung quyết định cảnh giới tái sanh. Làm thế nào để có được tâm thái tốt trong giây phút quan trọng đó ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Cận Tử Nghiệp là hành vi cuối cùng, hay hành vi nào mà chập tư tưởng cuối cùng nhớ đến trước khi lâm chung. Cần lưu ý rằng, các tập quán, thói quen, nhất là sự luyến ái, chấp thủ khi còn sống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cận tử nghiệp. Do đó, nếu sống an lạc thì chết cũng an lạc. Sống còn khổ đau vì tham, sân, si thì đương nhiên chết cũng khổ đau như thế. Vì vậy, chúng ta cần huân tập các thiện nghiệp trong đời sống của mình để tạo thành một sức mạnh (ý lực) đoạn trừ các ác nghiệp ngay trong đời sống hàng ngày và cả đến giờ phút lâm chung. Để có sự giải thoát, ngay tại đây và bây giờ, cần phải luôn luôn hướng tâm đến với sự xả ly thanh tịnh, xóa bỏ mọi sự tham ưu ở đời. Trong các xứ Phật Giáo thường có tập tục nhắc nhở người sắp lìa trần những hành vi tốt đẹp của họ trong đời sống, hay giúp đỡ, khuyến khích họ tạo một nghiệp lành ngay trước giờ lâm chung như bố thí, đọc kinh, niệm Phật v.v... Đó là cách hữu hiệu giúp cho người từ trần có tâm thái tốt đẹp khi lâm chung. &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115486256391075394?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115486256391075394/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115486256391075394' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486256391075394'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486256391075394'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-cu-ri.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115486236987618416</id><published>2006-08-06T04:05:00.000-07:00</published><updated>2006-08-06T04:06:09.890-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN II :&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#000099;"&gt;Thâm ân Phụ Mẫu&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/de/?d=MOPN0M4F"&gt;http://www.megaupload.com/de/?d=MOPN0M4F&lt;/a&gt; &lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phải chăng theo nghiệp báo thì quan hệ giữa cha mẹ và con cái do thiện nghiệp tác thành ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Điều này không hẳn là thế. Hiện tại có sự quan hệ giữa cha mẹ và con cái có thể do nhiều nguyên nhân là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;a. Do thuận dòng cộng nghiệp thiện mà đời nầy có quan hệ cha mẹ và con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;b. Do thuận dòng cộng nghiệp ác mà đời nầy có quan hệ cha mẹ và con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;c. Do phước nguyện mà đời nầy có quan hệ cha mẹ và con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;d. Do thường cận nịch ái ràng buộc mà đời nầy có quan hệ cha mẹ và con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;e. Do oan trái oán thù mà đời nầy có quan hệ cha mẹ và con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự quan hệ nầy có nhiều nguyên nhân, và đã được giải thích trong kinh điển. Do đó không hẳn có quan hệ giữa cha mẹ và con cái đều do thiện nghiệp tác thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Tình thương trìu mến phụ tử, mẫu tử có phải là ái luyến phiền não chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Tất cả sự ái luyến đều là phiền não (kilesa), dù là sự ái luyến trong tình phụ tử hay mẫu tử, vì rằng khi có biệt ly mà tâm đau khổ do thương tiếc thì sự thương tiếc ấy chính là phiền não. Như có phật ngôn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Pemato jāyati soko Pemato jāyati bhayam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tứ thương yêu sanh sầu muộn.&lt;br /&gt;Tứ thương yêu sanh sợ hãi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu cha mẹ đối với con hay con đối với cha mẹ chỉ có thiện cảm xuất phát từ tâm từ (mettā) hay tâm bi (karun.ā) hoặc tâm hỷ (muditā), thì tình cảm đó không phải là ái phiền não; nếu là tình cảm có tính ích kỷ, chấp thủ thì là ái phiền não.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Có phải con phải luôn luôn vâng lời cha mẹ mới là con có hiếu ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Không hẳn là vậy, vì mỗi con người do căn cơ và trình độ khác nhau, có 4 hạng người. Như vậy có khi cha mẹ dạy đúng theo thiện pháp, nhưng cũng có khi lại hoàn toàn thiêng về tình cảm, mà người con thực hiện hạnh nguyện của mình và lại làm tấm gương cho nhân loại, nên người con phải nên xét lại lời dạy ðó có phù hợp và hướng thượng hay không.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (Sư Trưởng trả lời, tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Ơn nghĩa sanh thành khó đền đáp hết, phải chăng điều này nói rằng trong vô lượng kiếp luân hồi mỗi chúng ta mang vô số nợ không trả hết ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Điều này xin trích những đọan Phật ngôn để làm sáng tỏ vấn đề này: trong Tương Ưng Bộ Kinh, có đọan Đức Phật nói rõ: “ không dễ gì tìm một chúng sanh chưa từng là cha, là mẹ, là anh, là chị, là em trai, là em gái, là con trai con gái v..v…” nếu căn cứ rằng vô lượng kiếp như vậy thì cái nợ mênh mông, nhưng không phải là đơn phương một đương sự thiếu nợ mênh mông đó mà tất cả vô lượng chúng sanh đều mang nợ chồng chất với nhau. Với số ngày nay mấy tỷ nhân loại thì trong mấy tỷ nhân loại đó, những người nam, thí dụ là bản thân của tôi, thì những người đó từng là cha, là anh trai em trai, là con trai, và những người nữ cũng từng là mẹ, là chị là em gái, là con gái. Thì như vậy, những người này cũng thiếu nợ tôi, đương nhiên theo lý luận này thì tôi cũng thiếu nợ, thiếu qua thiếu lại chứ không phải một người làm. Chúng ta nên nhận biết rằng kiếp nào thì nói theo kiếp nấy, ngay trong kiếp hiện tại, chúng ta chưa dễ gì trả ơn cha mẹ sanh dưỡng cho trọn vẹn đừng nói chi là vô lượng kiếp. Tuy vậy, nếu quán tưởng tất cả chúng sanh chẳng riêng gì loài người mà kể cả loài thú thì vẫn là thân bằng quyến thuộc, là anh là em v..v… Chúng ta có được lòng từ mẫn không thù hận bất cứ một chúng sanh nào, và luôn luôn có tâm thương xót mọi chúng sanh, vì nếu nghĩ không gần cũng là xa hay là không xa cũng gần, những người này đã từng là cha là mẹ, là anh, là chị, là em, là con là cháu chúng ta…Và nếu nghĩ được như vậy thì không có tâm thù hận và không nỡ làm hại chúng sanh đều đó thật là tốt. Nói về câu trả hiếu trả thảo thì xin trả lời là trả hiếu trả thảo chỉ nói ngay trong kiếp hiện tại mà thôi chứ không thể nói mênh mông như vậy được. Cũng như nói là giết cha giết mẹ, phạm ngũ nghịch vô gián thì cũng như kể cha mẹ hiện tại chứ không thể nào lấy chung là cha mẹ vô lượng kiếp mà kể thì không được. Như vậy, câu nói là ơn nghĩa sanh thành khó đền đáp hết, phải chăng điều này vô lượng kiếp luân hồi, mỗi chúng ta mang vô số nợ không trả hết, nếu nói là vô số nợ thì không nợ này cũng là nợ khác cũng như nghiệp thì quả thật vậy, không bao giờ trả hết nghiệp đã tạo, chúng ta tu để được giác ngộ giải thoát, cắt đứt sanh tử luân hồi, ly gia cắt ái, trọn ly thế tục hướng đến sự viễn ly, đó là điều căn bản trong đời sống phạm hạnh. Dù cho cha mẹ trong hiện tại cũng như cha mẹ trong từ vô lượng kiếp khác dưới mọi hình thức chúng sanh này hay chúng sanh khác, nếu như chúng ta có lòng từ ái như vậy thì vẫn có thể xử sự như câu là: “dầu cho người con có lòng hiếu thảo mà vai mặt cỏng cha, vai trái cỏng mẹ đi ngao du khắp mặt đất cũng không trả ơn hết cho cha mẹ hay là chinh phục cả quả địa cầu này để cho cha mẹ thống trị cũng chưa gọi là trả hết ơn cho cha mẹ”, nhưng mà nếu hướng dẫn cho cha mẹ chống thập ác, tu theo thập thiện thì mới được kể như là đền đáp công ơn cha mẹ đã sanh, bởi vì hướng dẫn cho cha mẹ tránh điều ác làm điều lành thì cha mẹ được sanh về nhàn cảnh, cõi trời, chư thiên hay cõi người , không bị sa đọa vào bốn đường ác dạo, như vậy gọi là đền ơn trả thảo. Đối với cha mẹ hiện tại cũng vậy, vô số chúng sanh cũng vậy, chúng sanh nào mà chúng ta có thể hóa độ được, cảm hóa đươc, hướng dẫn được thì cũng nên hướng dẫn họ đi vào con đường ngay lẽ chánh tức là tu tập theo thập thiện tránh xa thập ác., dù cho cha mẹ xa hay cha mẹ gần thì chúng ta cứ xử sự như vậy thì vẫn được, vẫn tốt và vẫn đúng. Còn nói chữ hiếu, thì xin trả lời theo ý của tôi thì cha mẹ hiện tại, kiếp nào trả kiếp nấy không thể nói mênh mông được. Đó là câu trả lời số 4 của tôi mà quý vị đã nêu ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (Sư Trưởng trả lời, tinhtan viết lại)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Hiêú và tình thu'o'ng khó lu'õ'ng toàn. Ngu'ò'i con nên cu' xu'² thê' nào go.i là ho'.p ða.o ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Điều này chúng ta không thể áp dụng chung cho mọi người bởi vì mỗi người có một lối sống riêng nhưng mà có thể chúng ta nói lên tâm trạng riêng như tôi chẳng hạn. Có thể căn cứ vào Phật ngôn, căn cứ vào sách chữ nho chẳng hạn và sống bằng lý trí thì chúng ta có thể tùy vào hoàn cảnh mà xử sự. Hơn nữa, những người Việt Nam thì không giống như những người nước ngoài hay giới Tây Phương, do đó nên trả lời giống như vậy chắc là rất khó. Lại nữa, nếu như một người con mà có vợ mà người vợ lại là người Á châu, đông phương thì lại khác, mặc dầu có ảnh hưởng Tây Phương nhưng vẫn còn tương đối. Nếu vợ là người hòan toàn Tây Phương, Âu Mỹ, họ có nếp sống riêng theo kiểu Tây Phương thì lại càng khó hơn nữa, khó áp dụng được, đừng nói chi hiếu tình khó lưỡng toàn, mà ở đây đông tây khó mà giải quyết vì phong tục, tập quán, văn hóa có khác nhau. Nếu như trường hợp này ở địa phận đông phương hay ở Việt Nam thì cá nhân trong một gia đình như tôi chẳng hạn thì không có gì mà không giải quyết được. Thí dụ như bây giờ chúng ta có một ông cha bà mẹ già, lớn tuổi nhưng mà với tính lẩm cẩm khó khăn, nhưng dù sao cũng là đấng sanh thành, bây giờ gặp một bà vợ trẻ đẹp ngoan ngoản thật dễ thương mà có một điều là không chịu nỗi với sự sai biểu, sắp đặt hay xử sự của cha mẹ, một là đòi sống riêng, hai là đuổi cha mẹ đi như tiền thân của Ngài Mục Kiền Liên, nếu có như vậy nữa cũng tùy theo mỗi cá nhân. Nếu trường hợp như tôi thì tôi không giải quyết như vậy, cha mẹ thì lo phần cha mẹ, nếu là khuôn viên đất có rộng thì cất riêng cho cha mẹ ở nhà riêng để chúng ta phụng dưỡng sớm thăm tối viếng săn sóc cho cha mẹ theo bổn phận chúng ta, người vợ hay dâu có lo thì lo không lo thì thôi, bổn phận con trai thì lo cho cha mẹ của mình. Đối với vợ thì vẫn sống cuộc sống gia đình bình thường nhưng tiền của đâu ra đó, phần nào vợ chồng sống, còn phần của cha mẹ là của cha mẹ. Nếu bà vợ xấu tánh hay đố kỵ lợi dụng tình thương của người chồng mà có những thái độ thái quá thì chúng ta phải ngăn phải khuyên, mà ngăn khuyên không được phải rầy phải la, nếu không được nữa thì đi đến chổ ly dị nếu chúng ta thấy ơn nghĩa cha mẹ nặng thì phải xử sự như vậy thôi. Nếu bà vợ tương đối, tuy rằng có vài tánh hơi rắc rối nhưng không đến đổi thì chúng ta cũng nên linh động, thì chúng ta làm có tiền thì chúng ta dành ra một phần để lo cho cha cho mẹ, còn phần kia thì chúng ta chung sống với vợ với con, đâu ra đó, chia xẻ như vậy thì cũng gọi là lưỡng toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Đi xuất gia rời xa cha mẹ có bất hiếu chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Mới thoạt nghe thì dường như chỉ có đi xuất gia mới rời xa cha mẹ. Hầu hết thanh niên nam nữ thành nhân ngày nay thường xa cha mẹ vì nghề nghiệp, hôn nhân, lối sống ... Các bậc cha mẹ thường mong là không phải lo lắng nhiều vì con, cũng mong là con cái dù ở đâu cũng còn nghĩ đến cha mẹ và không làm điều gì phương hại gia phong. Nói về những điều nầy thì người xuất gia không có gì kém hơn người cư sĩ. Thậm chí đôi khi còn nhiều thuận duyên hơn (...).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Theo Phật Pháp, có cách nào được gọi là báo ân đầy đủ cho cha mẹ không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Có, vì mỗi con người luôn đau khổ vì các tội lỗi, 10 phi phúc hành khi cho quả, thì chính giáo Pháp của Đức Phật lại diệt trừ các ác quả đó khi có trí tuệ nhận diện được, thực hành và còn vĩnh viễn không còn sa đọa nữa, nên người con nào bằng ðủ mọi phương tiện để giúp cho cha mẹ hiểu được Phật Pháp theo Giới Ðịnh Tuệ là báo ân đầy đủ cho cha mẹ, vì lòng tham thì không bao giờ biết đủ nên lúc nào cũng thiêu đốt chúng sanh ấy, còn Trí Tuệ thì luôn ly tham và tịch tịnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Không có con nối dõi tông đường có gọi là đại bất hiếu chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Quan niệm cho rằng “Không có con nối dõi tông đường là đại bất hiếu” là quan niệm của Mạnh Tử. Mạnh Tử cho rằng : Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại (Có 3 điều bất hiếu, không có con là điều nặng nhất). Ba điều đó là: Một là hùa theo cha mẹ để cha mẹ mắc vào chỗ bất nghĩa; hai là nhà nghèo, cha mẹ già mà không chịu ra làm quan, lấy bổng lộc nuôi cha mẹ; ba là không chịu lấy vợ, không có con, tuyệt đường cúng tế tiên tổ. Trong ba việc đó, việc không có con là lớn nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phật giáo thì đánh giá đạo đức của một con người qua hành vi đạo đức của người đó. Một người vì lý do này hay lý do khác mà không có con nối dõi tông đường, nhưng không hề có tác ý muốn xúc phạm hay làm cha mẹ đau khổ thì không thể kết tội người đó là bất hiếu. Ðặc biệt nếu một người biết kính trọng, thương yêu, lo lắng, chăm sóc cho cha mẹ, nhưng đồng thời cũng biết được tham ái chính là nguồn gốc của mọi đau khổ mà chọn con đường vô tham vô dục thì càng không thể gọi đó là người bất hiếu. Xét cho cùng, sự nối dõi về chân lý, học thuật, đạo đức quan trọng hơn sự nối dõi về sinh lý, và những người con phi đạo đức mới đáng gọi là những người con bất hiếu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Gia đình có nhiều con có thể gọi là nhiều phước chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Nhiều người cho rằng con đống cháu đàn là biểu hiện của một gia đình có nhiều phước đức. Tuy nhiên xét cho kỹ thì sự thật không hẳn như vậy. Mỗi ðứa con ra đời là một trách nhiệm mới cho cha mẹ. Mỗi sự vui buồn, thành công hay mất mát của con cái cũng trở thành vui buồn, thành công hay mất mát của cha mẹ. Chính sự dính mắc của cha mẹ đối với con cái là một nguồn đau khổ cho bản thân họ. Dù con cái của họ có thành đạt đến bao nhiêu, cũng không thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử và vô số nỗi khổ khác. Nếu mỗi chúng sanh là một khổ uẩn, thì những người làm cha mẹ có tâm dính mắc là chồng chất của nhiều khổ uẩn. Vì vậy khó có thể nói gia đình có nhiều con là có nhiều phước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (TK Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phải chăng cúng dường cha mẹ cũng như cúng dường Đức Phật ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Trong kinh điển Phật giáo xem cha mẹ là một trong bốn "ruộng phước" cao quí (ba phước điền kia là chư Phật Toàn giác, Độc giác và Thinh Văn Thánh chúng). Đơn cử từng trường hợp thì khó so sánh, nhưng tổng quát mà nói thì cha mẹ là phước điền thù diệu vì ân sâu và đức độ vô lượng với con cái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cứu rỗi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 1 (Sư Trưởng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phải chăng tất cả người sanh vào khổ cảnh như địa ngục đều có thể được giải thoát bằng phép hồi hướng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 2 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu chúng sanh trong khổ cảnh không nhận được phước hồi hướng thì làm thế nào để thoát khổ cảnh ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Ngoại trừ chúng sanh khổ cảnh ngạ quỉ paraduttūpajīvī là nhận được phước hồi hướng để thoát khổ cảnh. Các loài chúng sanh khổ cảnh khác như địa ngục, a tu la và bàng sanh thì không nhận được phước hồi hướng, nhưng chúng vẫn có nhân duyên để thoát khỏi khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài địa ngục nhờ sự gợi ý của diêm vương (yāmarāja) mà nhớ lại thiện sự (nếu họ từng có làm thiện), nhờ vậy mà thoát khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Loài a tu la thì nhờ nghe kinh pháp mà tự cảnh tĩnh (nếu họ chỉ có oan trái nhẹ) nhờ vậy mà thoát khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng loài bàng sanh đa dạng, có những loại biết tạo tâm thiện, tạo uy lực hạnh, nhờ vậy mà thoát khổ cảnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu chúng sanh khổ cảnh không nhờ nguyên nhân nầy, thì trải qua thời gian rất lâu, khi ác nghiệp giảm thiểu sức mạnh, quả dư sót dẫn dắt tái sanh cảnh giới khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Một người đã làm ác nghiệp làm thế nào để chuộc tội và sửa đổi nghiệp ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Một người làm ác nghiệp là do tà kiến và si mê, có những chấp thủ sai lầm, nên đã tạo những ác nghiệp và tội lỗi, do gần gủi, thân cận những người bạn ác và theo những Tôn giáo tà thuyết, chấp lấy những quan kiến sai lầm, nhứt là thường kiến, đoạn kiến và những quan kiến khác. Nên sửa đổi, phải từ bỏ bạn ác và tránh xa các tôn giáo tà thuyết ấy, thân cận bạn lành và gần gủi các bậc trí tuệ, tu hành theo Bát Chánh Đạo như câu Pháp Cú 173 đã dạy:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ai dùng các hạnh lành&lt;br /&gt;Làm xóa mờ nghiệp ác&lt;br /&gt;Chói sáng rực đời này&lt;br /&gt;Như trăng thoát mây che.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 4 (Sư Trưởng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Người Phật tử có phép sám hối nhưng tại sao trong A Tỳ Ðàm dạy trạng thái "hối quá" là một tâm sở phiền não ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 5 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Sám hối tội lỗi một cách hợp đạo là sám hối thế nào ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Trong kinh giáo giới Ra Hầu La (Rāhulovādasutta) Đức Phật dạy về cách phản tỉnh thân, khẩu, ý và khi thấy biết có lỗi lầm về thân hành hoặc khẩu hành thì nên phát lộ (bày tỏ) với thầy hay bạn có trí để sám hối chừa cải; nếu có lỗi lầm về ý hành thì chỉ tự hổ thẹn và quyết định chừa bỏ trong tương lai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cách sám hối hợp đạo có 2 cách là phát lộ sám hối và tâm nguyện sám hối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong luật của bậc xuất gia thì Đức Phật đã chế định nhiều hình thức phát lộ sám hối tùy theo tội nặng nhẹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người cư sĩ cũng có cách sám hối hợp lẽ đạo bằng cách bày tỏ lỗi lầm và hứa nguyện chừa cải.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những tội nặng nề như đại nghịch tội, như tội ba la di của tỳ kheo không thể sám hối cho thanh tịnh được, nhưng cũng nên có lòng tàm quý hối quá để chận đứng tâm ác không cho tiếp tục tăng trưởng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 6 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Chúng sanh có thể nào trả hết được bất thiện nghiệp của mình đã tạo không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Ðền tội" có đền được tội không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Theo tinh thần Đức Phật dạy về Ác nghiệp, theo thông thường mọi người thường gọi là Tội. Ác nghiệp nầy khi có cơ hội thi sẽ trổ sanh theo thời gian, và còn tùy theo là thường nghiệp, hay trọng nghiệp nữa, những ác nghiệp sẽ được đoạn trừ khi Đạo Quả sanh lên, nếu chưa đắc được Đạo Quả, thì đối với trọng nghiệp vẫn có cơ hội để trổ sanh, mà các bậc Thánh lậu tận vẫn phải nhận lấy Tội, Nghiệp ấy. Nếu hiểu theo nghĩa đền tội, theo thay thế hay là trừ qua cấn lại thì hoàn toàn không đúng. Theo lời Phật dạy và cũng không thuận theo chơn lý, vì ác sẽ trổ ác quả, còn thiện thì sẽ trổ thiện quả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 8 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Tạo thiện nghiệp có chuyển được dòng nghiệp lực chăng ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Dòng nghiệp lực là một kết cấu có quá khứ, hiện tại hổn hợp. Tiền nghiệp chi phối hiện tại mà hiện nghiệp cũng chi phối hiện tại. Do vậy không thể nói tiền nghiệp quyết định tất cả mà cũng không thể nói hiện nghiệp có thể thay đổi tất cả. Sự tu tập giải thoát vô dư y niết bàn là cứu cánh vô hiệu tất cả nghiệp quá khứ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 9 (TT Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu quá khứ chúng ta đã tạo nhiều nghiệp thiện lẫn nghiệp bất thiện thì trong hiện tại điều kiện nào khiến cho thiện nghiệp trổ quả hay ngược lại ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Nghiệp quá khứ mang "khả tính" trổ quả trong đời hiện tại. Ngài Narada giải thích điều nầy y cứ theo kinh điển như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong sự báo ứng của nghiệp ta nên biết rằng có những năng lực hỗ trợ, nâng đỡ, tạo điều kiện, trợ duyên cho quả sớm trổ sanh, và ngược lại cũng có những năng lực kiềm hãm, ngăn chặn, không cho quả trổ sanh, hay nghịch duyên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự sanh trưởng (gati), thời gian hay hoàn cảnh (kala), nhân cách hay tướng mạo (upadhi), và sự nỗ lực cố gắng (payoga) là những năng lực trợ duyên hay nghịch duyên, hỗ trợ hay ngăn cản quả trổ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thí dụ như người kia sanh trưởng trong một gia đình quý phái, giàu sang, hay trong hoàn cảnh an lành, sự tái sanh tốt ấy đôi khi là một năng lực ngăn chặn không cho quả dữ trổ sanh.&lt;br /&gt;Trái lại, người nọ sanh trưởng trong gia đình ghèo khó khốn cùng, hay trong cảnh khổ, sự tái sanh bất hạnh của người nầy tạo điều kiện thuận tiện cho quả dữ trổ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Danh từ Phật Giáo gọi những năng lực ấy là "tái sanh thuận lợi" (gati sampatti) và "tái sanh bất thuật lợi" (gati vipatti).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người kia, dầu không phải là hạng thông minh, mà nhờ có Nghiệp tốt, sanh trưởng trong hoàng tộc thì cũng được thiên hạ kính nể kiêng vì. Nếu cũng kém thông minh như người ấy mà sanh trong gia đình túng thiếu bần hàn thì ắt không được kính trọng như vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu nhờ Nghiệp tốt mà người kia được tái sanh thuận lợi, nhưng bất hạnh phải tật nguyền hay có tướng mạo dung nhan xấu xí thì cũng không hoàn toàn trọn hưởng phước lành của mình. Một vị hoàng tử đáng lẽ phải nối ngôi cha để trị vì thiên hạ, nhưng nếu vị ấy tật nguyền cũng có thể đó là một trở ngại, không được lên ngôi báu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trái lại, diện mạo phương phi là yếu tố giúp thành công. Một đứa trẻ tuy nghèo nhưng mặt mày thông minh sáng sủa có thể làm cho người khác chú ý đến và gieo ít nhiều thiện cảm đến người khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian hay cơ hội thuận lợi và bất thuật lợi (kalasampatti và kalavipatti) là hai yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến sự báo ứng của Nghiệp. Thí trong một thiên tai, tất cả đều phải cùng chung chịu một số phận. Đó là điều kiện bất thuận lợi, trợ duyên cho nghiệp xấu trổ sanh. Cũng có những điều kiện thuận lợi làm suy giảm năng lực hoặc ngăn chặn không cho Nghiệp xấu trổ sanh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các năng lực trợ duyên và nghịch duyên, hạnh tinh tấn hay sự nỗ lực cố gắng (payoga) là quan trọng hơn tất cả. Trong sự báo ứng xủa Nghiệp, tình trạng cố gắng hay thiếu cố gắng giữ một vai trò chánh yếu. Do cố gắng trong hiện tại, ta có thể chuyển Nghiệp, tạo Nghiệp mới, hoàn cảnh mới, môi trường mới, cả một thế giới mới. (Đức Phật và Phật Pháp - bản dịch của Phạm Kim Khánh)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Câu 10 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phật Pháp dạy rằng tâm thái trong giây phút lâm chung quyết định cảnh giới tái sanh. Làm thế nào để có được tâm thái tốt trong giây phút quan trọng đó ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: .... &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115486236987618416?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115486236987618416/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115486236987618416' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486236987618416'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486236987618416'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn-ii.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-32271557.post-115486230325928709</id><published>2006-08-06T04:02:00.000-07:00</published><updated>2006-08-06T04:05:03.276-07:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;span style="color:#666600;"&gt;ĐỀ ÁN MÙA VU LAN&lt;br /&gt;100 CÂU HỎI MÙA VU LAN - PHẦN I:&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;span style="font-size:180%;color:#cc33cc;"&gt;&lt;span style="color:#000099;"&gt;Những Thắc Mắc Về Nghiệp Báo&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;/span&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://www.megaupload.com/de/?d=Z5MWGG50"&gt;http://www.megaupload.com/de/?d=Z5MWGG50&lt;/a&gt;&lt;/span&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-family:times new roman;font-size:130%;"&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 1 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phước lành có thể chia cho người khác không? Nếu được thì bằng cách nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Phước lành có thể chia cho người khác. Việc chia phước này còn được gọi là hồi hướng công đức (Pattidana), tức là có lòng muốn chia xẻ phước báo của việc thiện mình mới vừa thi hành đến cho người khác cùng hưởng với mình. [Pattidana = patti (những gì hưởng được) + dana (hiến tặng)]. Người chia phước dĩ nhiên vẫn thọ hưởng lợi ích của hành vi bố thí (dana) đã làm. Ý muốn hào hiệp chia xẻ phước báo với kẻ khác, cũng lại một công đức khác nữa.&lt;br /&gt;Sau khi làm được một thiện pháp, chúng ta nên hồi hướng công đức như thế nầy:&lt;br /&gt;"Nguyện cầu những ai nghe đến lời tôi đang nói, sẽ chia xẻ cùng tôi phước báo nầy! Nguyện cầu mọi người đều có thể thọ hưởng nhiều công đức như tôi!" Như thế, hồi hướng công đức, chính nó, cũng là một hành vi thiện pháp riêng biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 2 (Ni sư Liễu Pháp trả lời)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu chúng sanh nhận được phước hồi hướng, phải chăng là không gieo nhân lành mà được hưởng phước báu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Không phải như vậy, bởi vì muốn nhận được phước hồi hướng, người đó phải tuỳ hỷ công đức, và đó cũng là một phước thiện, phước thiện phát sanh do hoan hỉ phần phước thiện mà người thí chủ hồi hướng (Pattānumodanākusala).&lt;br /&gt;Thành tâm cảm thấy sung sường trước sự hồi hướng công đức của kẻ khác được gọi là tuỳ hỉ công đức. Khi nghe ai đang hồi hướng công đức, ta tỏ vẻ vui mừng cho người ấy và nói ba lần: "Sadhu” (Khéo làm thay!).&lt;br /&gt;Cảm thấy vui mừng, trước một công tác thiện do kẻ khác làm, cũng là một cử chỉ đáng khen ngợi. Bản chất của tình cảm đó thuộc về tâm sở tuỳ hỉ (mudita), tức là tấm lòng vui thích hoàn toàn vị tha, thông cảm nỗi mừng của người khác Nhưng thực hiện được thật sự tuỳ hỉ công đức chẳng phải quá dễ dàng. Một lời nói ở đầu môi chót lưỡi: "Khéo làm thay!" mà chẳng thật sự khởi lên tâm hân hoan, đó chỉ là một lời nói suông lấy lệ mà thôi. Đôi khi có người lại chẳng thấy vui lòng cho lắm trước công đức của kẻ khác, trái lại còn ngấm ngầm trong bụng hờn ghen, đố kỵ, khiến cho tâm sở ganh tị (issa) nổi lên, đem bất thiện pháp đến làm ô nhiễm tâm thức mình.&lt;br /&gt;Bởi vậy tuỳ hỉ công đức tự nó cũng là một thiện pháp, chẵng phải là không gieo nhân lành mà được hưởng phước báu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 3 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Tất cả phước sự đều có thể hồi hướng hay chỉ có một số nào đó thôi?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Tất cả phước sự (từ chữ Puñña phước thiện, công đức) nên đều có thể hồi hướng đến người quá vãng được nhưng được phân ra ba loại phước, phước vật, phước đức, phước trí. Được sắp xếp và thể hiện qua việc làm 10 thiện sự. Kāma vui thích việc lành, nên người làm lành rồi, hồi hướng đến người quá vãng và người quá vãng chỉ nhận được phước lành ấy bằng cách tùy hỷ phước mà thôi. Bằng cảnh duyên, Ānubhāva oai lực phước báu rất cần cho người quá vãng nhứt là những cuộc đại thí Tăng thí .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 4 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phải chăng tất cả người quá vãng đều có thể nhận được phước lành hồi hướng?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: không phải tất cả người quá vãng đều có thể nhận được phước lành hồi hướng. Trong kinh tạng, Tương ưng kinh có giải thích rằng chỉ có chúng sanh ngạ quỉ paradattūjīvī là dễ dàng nhận đượcphươ1c lành hồi hướng vì chúng sống nhờ phước người khác cho. Các chúng sanh khác, loài địa ngục thì quá khổ, loài người và súc sanh thì có vật thực riêng, chư thiên có phước báu đã tạo, phạm thiên thì hưởng lạc do thiền định nên các loài ấy không nhận được phước báu hồi hướng. Chư thiên cõi dục vì ưa thích làm thiện nên khi có người san sẽ công đức thì họ tự hoan hỷ, nhưng không phải nhận phước hồi hướng như ngạ quỉ paradattūjīvī.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 5 (TT Tuệ Siêu trả lời)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Nếu chỉ tụng kinh thì có tạo được phước hồi hướng không?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Nếu chỉ tụng kinh suông thì không có tạo được phước hồi hướng.&lt;br /&gt;gọi là phước hồi hướng phải là phước do bố thí cúng dường (dakkhinādāna).&lt;br /&gt;phước do trì giới, phước do tu thiền không thể là thực phẩm cho chúng sanh đang bị đói khổ như ngạ quỉ được; việc trì giới, thiền định, thính pháp, thuyết pháp mà người ta đã làm và san sẽ công đức đến chư thiên, không phải là phước hồi hướng mà chỉ có sự khích lệ làm cho hoan hỷ, ví như thân hữu tặng quà cho nhau; chư thiên hoa hỷ và thương tưởng lại người ấy.&lt;br /&gt;Do vậy cần phải có thiện sự thiết thực, như cúng dường mới là tạo phước hồi hướng đến chúng sanh ngạ quỉ được; sự tụng kinh nếu có tác dụng, chỉ để giúp chúng sanh phi nhơn nghe pháp thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 6 (TK Giác Đẳng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Phải chăng tất cả người sau khi chết đều phải vào địa ngục chờ phán xét rồi mới đi đầu thai?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Theo Tam Tạng Pali thì nhân quả là một định luật tự nhiên không cần phán xét và không chờ đến sau khi chết mới phán xét. Những chúng sanh trong đời sau khi thân hoại mạng chung sanh vào nhiều cảnh giới tương ưng với nghiệp đã tạo. Nói cách khác chỉ có chúng sanh tạo ác nghiệp mới sanh vào địa ngục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 7 (TK Pháp Đăng trả lời)&lt;br /&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Cầu cho người mất siêu sanh là siêu sanh về đâu?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Cầu cho người đã mất, khi tất cả chúng sanh từ bỏ đi cái gì hiện tại nhứt là chúng sanh nhân loại thì những người có ân, nghĩa hay tình với người quá vãng đó cũng theo pháp tri ân và báo ân hay với lòng bi mẫn, hay với sự mong mỏi tổ chức trai Tăng cúng dường để hồi hướng cho người quá vãng, khỏi sa đọa vào cõi khổ, và luôn được siêu sanh về nơi cõi vui Trời và Người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Câu 8 (TK Giác Đẳng trả lời)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hỏi: Tại sao lễ trai tăng được xem là một phước hạnh thù thắng để hồi hướng cho người mất?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáp: Cúng dường trai tăng vô phân biệt là phước hạnh thù thắng nhất trong tất cả sự bố thí tài vật. Có nhiều lý do tạo nên điều nầy. Tâm thí vô phân biệt tức là nhắm vào đại chúng chứ không mang tính cá nhân là tâm thí thiện xảo nhất. Vật thí được trang trọng là vật thí cao quí. Đối tượng thọ nhận có nhu cầu độ nhật nuôi thân thiết yếu. Hơn thế nữa nếu người cho biết cách cho và người nhận biết cách nhận theo lẽ đạo thì phước hạnh châu viên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;9. Rằm Tháng Bảy được gọi là "Mùa Xá Tội Vong Nhân" điều này có thuần túy Phật giáo không ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;10. Khi hồi hướng phước thì nên hồi hướng thế nào được xem là đúng cách ? &lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/32271557-115486230325928709?l=vulan2006.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://vulan2006.blogspot.com/feeds/115486230325928709/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=32271557&amp;postID=115486230325928709' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486230325928709'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/32271557/posts/default/115486230325928709'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://vulan2006.blogspot.com/2006/08/n-ma-vu-lan-100-cu-hi-ma-vu-lan-phn-i.html' title=''/><author><name>Dieu Quang</name><uri>http://www.blogger.com/profile/09623806288816387361</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
